Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) – Chi nhánh Gia Lai. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) – Chi nhánh Gia Lai. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm dịch vụ và dịch vụ ngân hàng bán lẻ *Khái niệm dịch vụ: Theo Philip Kotler và Kellers (2006) định nghĩa “Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thức vật thể (vô hình), không có sự chuyển giao quyền sở hữu khi một tổ chức cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả các nhu cầu của sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Trong thực tế, nhu cầu của con người đang ngày càng trở nên đa dạng kéo theo đó là sự ra đời của nhiều loại hình dịch vụ khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu đó. Dịch vụ ngân hàng cũng không ngoại lệ, nó là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính”.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là tất cả các hoạt động tiền tệ, thanh toán, tín dụng, ngoại hối… mà ngân hàng thương mại cung ứng cho nền kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và đem lại nguồn thu phí cho chính các ngân hàng thương mại cung ứng dịch vụ. *Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Hiện nay, chưa có một khái niệm chính xác và thống nhất về dịch vụ NHBL. Tùy theo từng quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau sẽ có nhiều khái niệm về khác nhau về dịch vụ NHBL. Tuy nhiên theo cách hiểu phổ biến nhất thì dịch vụ NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho các khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các DNNVV.
Theo khái niệm của Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO): “Dịch vụ NHBL là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, 8 kiểm tra tài khoản, thế chấp, vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm…. Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin trong các sản phẩm ngân hàng cung cấp như các chuyên gia kinh tế của học viện Châu Á (Asian Institute of Technology - AIT) cho rằng, dịch vụ NHBL là “cung cấp trực tiếp sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và CNTT”. Theo từ điển giải nghĩa Tài chính - Đầu tư - Ngân hàng - Kế toán Anh Việt, Nhà xuất bản khoa học và kinh tế năm 1999 định nghĩa “ Dịch vụ NHBL là các DVNH được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ NHBB là DVNH dành cho các định chế tài chính và những DVNH được cung cấp với số lượng lớn”. Tóm lại, dịch vụ NHBL có thể hiểu một cách tóm gọn như sau: Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ là DVNH cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm DVNH thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông.
Đặc điểm và vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đặc điểm: Đối tượng phục vụ của NHBL vô cùng lớn: là các cá nhân, hộ gia đình và các DNNVV. Số lượng sản phẩm dịch vụ NHBL cung cấp rất đa dạng nhưng giá trị của từng khoản giao dịch không quá cao nên mức độ rủi ro tương đối thấp được các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng trên phạm vi rộng Dịch vụ NHBL phần lớn dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và một dịch vụ đơn giản, dễ thực hiện: mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân nên các dịch vụ thường tập trung vào dịch vụ tiền gửi, thanh toán, vay vốn và dịch vụ thẻ. 9 Việc phát triển kinh doanh chủ yếu dựa vào thương hiệu chất lượng dịch vụ tốt của ngân hàng nên chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng để phát triển dịch vụ NHBL. Chi phí hoạt động trung bình cao do số lượng khách hàng tuy đông nhưng phân tán rộng khắp nên việc giao dịch không được thuận tiện.
Ngân hàng thường mở rộng mạng lưới, đầu tư giao dịch trực tuyến rất tốn kém Phương thức quản lý và các hình thức tiếp thị đa dạng, phức tạp hơn do mạng lưới khách hàng trải rộng. Vai trò: Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang là xu hướng tất yếu của các NHTM hiện nay, bởi nó có ý nghĩa lớn không chỉ đối với bản thân ngân hàng, khách hàng mà còn có tầm ảnh hưởng đến cả nền kinh tế đất nước. Xác định rõ điều đó để xây dựng và hoàn thiện những kế hoạch, chính sách phát triển tốt cho loại hình dịch vụ tiềm năng này đang là thách thức dành cho hệ thống các NHTM. - Đối với ngân hàng: xét trên phương diện chung thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ có vai trò quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển và xây dựng đường lối cho các NHTM, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng.
Xét riêng từng nghiệp vụ thì bản thân mỗi loại cũng có ý nghĩa nhất định. Trong đó, tín dụng là hoạt động sinh lời và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng, còn với thanh toán ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư mà chỉ phải trả lãi suất thấp hoặc không lãi suất cho người gửi và nghiệp vụ huy động vốn mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài bởi đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. - Đối với khách hàng: dịch vụ ngân hàng bán lẻ đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Mục tiêu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là khách hàng cá nhân, nên dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi, tài khoản, vay vốn, mở thẻ tín dụng, nhu cầu về dịch vụ ngày càng cao.
Còn khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa thì tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh, 10 góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hoá. – Đối với nền kinh tế: + Dịch vụ ngân hàng bán lẻ góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn của các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. + Giảm khối lượng tiền mặt lưu thông khi sử dụng công cụ thanh toán không dùng tiền mặt và giảm được chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển + Điều tiết lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ. Ngoài ra nghiệp vụ huy động vốn còn góp phần tăng vốn để phát triển nền kinh tế.
Phân loại các danh mục ngân hàng bán lẻ 1. Dịch vụ huy động vốn Đây là một nghiệp vụ thuộc tài sản nợ, là một nghiệp vụ truyền thống của NHTM góp phần lớn vào việc hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM. NHTM huy động vốn từ các khách hàng cá nhân, khách hàng là DNNVV theo các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Đặc điểm của nguồn vốn huy động bán lẻ: Theo Võ Hồng Thanh (2020) thì: Huy động vốn thông qua nhiều hình thức như tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá.
tập trung chủ yếu ở những đô thị phát triển về kinh tế xã hội. Giá vốn không đồng nhất giữa các địa bàn và giữa các thời điểm: căn cứ vào các điều kiện về kinh tế xã hội, mặt bằng lãi suất tại địa phương và nhu cầu vốn của ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định mà mỗi ngân hàng sẽ có những mức lãi suất huy động phù hợp. Giá vốn tương đối cao hơn so với việc huy động vốn từ các đối tượng khác (tổ chức kinh tế, từ các tổ chức tín dụng khác). Vai trò của nguồn huy động từ khách hàng cá nhân, hộ gia đình và 11 DNNVV đối với ngân hàng: Là một trong hai bộ phận chính trong huy động vốn cho của NHTM bên cạnh huy động vốn từ các thành phần kinh tế.
Đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng nguồn vốn cho các ngân hàng. Tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ yếu cho ngân hàng. Tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn chủ yếu từ khu vực dân cư, các khu vực còn lại như các tổ chức kinh tế ít huy động được nguồn vốn này trong khi đây lại là khu vực có nhu cầu cao về nguồn vốn trung và dài hạn. Tăng tính ổn định, bền vững tương đối cho nguồn vốn, tính ổn định của nguồn vốn từ cá nhân thể hiện trên các khía cạnh: luồng tiền chu chuyển thấp, ít chịu tác động bởi yếu tố thời vụ, thói quen giao dịch tiền mặt.
Giúp xây dựng mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm dịch vụ NHBL. Dịch vụ Tín dụng bán lẻ Dịch vụ tín dụng bán 1ẻ bao gồm các sản phẩm : cho vay cá nhân (như cho vay du học, cho vay mua nhà trả góp, cho vay mua ô tô, cho vay đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng, bất động sản…), cho vay hộ gia đình và cho vay DNNVV (như cho vay từng lần, cho vay thấu chi, cho vay theo hạn mức) Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ tín dụng bán lẻ: Sự phát triển của xã hội và quy mô dân số ngày càng tăng, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu cho sản phẩm này. Vì vậy thị trường tín dụng bán lẻ rộng và không ngừng tăng trưởng .