CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới. Các nghiên cứu về dịch vụ NHBL.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về dịch vụ NHBL. Các nghiên cứu về dịch vụ NHBL trên thế giới đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau: khái niệm về dịch vụ NHBL, các loại hình dịch vụ NHBL, các nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ NHBL tại một ngân hàng hay một nhóm ngân hàng cụ thể, vai trò của dịch vụ NHBL đối với đời sống xã hội, đối với nền kinh tế, hay nghiên cứu nhằm chiếm lĩnh thị phần của dịch vụ NHBL tại một số ngân hàng trên thế giới. Đi sâu nghiên cứu khái niệm về dịch vụ NHBL, đưa ra những nghiên cứu định lượng về đóng góp của dịch vụ này trong sự tăng trưởng của các ngân hàng thương mại Brunner, A.Kudela (2004) và Tiwari, Rajnish and Buse, Stephan (2006) đã chỉ ra rằng: NHBL là tổ hợp các dịch vụ tài chính, là loại hình dịch vụ ngân hàng được khách hàng hàng cá nhân sử dụng một cách trực tiếp với ngân hàng, nó bao gồm: cầm cố, tiết kiệm, chao vay tiêu dùng, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng. Trong nghiên cứu của Cassy Glesson và Akua Soadwa (2008) khi điều tra 207 NHBL ở New York để tìm hiểu các hàng hóa và sản phẩm dịch vụ mà các ngân hàng này cung cấp cho khách hàng, tác giả đã chỉ ra hơn 10 sản phẩm dịch vụ do các ngân hàng này cung cấp như dịch vụ chuyển tiền, cho vay, hỗ trợ thanh toán thuế thu nhập cá nhân…Và cũng chính các sản phẩm dịch vụ này đã mang lại nguồn thu không nhỏ cho các ngân hàng.
Không đi sâu vào tìm hiểu khái niệm, các loại hình dịch vụ NHBL cũng như vai trò của dịch vụ NHBL, nghiên cứu của Reynold E.Byers và Phillip J.Lederer (2001) từ mô hình truyền thống, điện tử và sự lựa chọn phân phối hỗn hợp đã đưa ra giải pháp cho việc xây dựng chiến lược phân phối dịch vụ NHBL. Trong các chiến lược thì ảnh hưởng của công nghệ phân phối điện tử là lớn nhất và quan trọng nhất. Nghiên cứu cũng đồng thời chỉ ra rằng: sự thay đổi thái độ và ứng xử của khách hàng, sự thay đổi cấu trúc chi phí của ngân hàng với ảnh hưởng của công nghệ mới sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược phân phối của ngân hàng.L (2000) trong nghiên cứu sự cạnh tranh của các ngân hàng đã đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thông qua chiến lược phát triển các thể chế tài chính bán lẻ nhằm phát triển dịch vụ NHBL tại các quốc gia mới nổi, đang phát triển. Theo Later John Kay (2009) nghiên cứu đặc trưng của dịch vụ Marketing NHBL thì NHBL truyền thống chỉ tập trung vào các khách hàng tiềm năng và các sản phẩm dịch vụ tài chính như: séc, tiết kiệm, cho vay tiêu dùng cho người nhập cư và các khoản cho vay thương mại.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ NHBL đã được hầu hết mọi người hiểu không chính xác. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh. Nhiều nghiên cứu tiếp cận vấn đề năng lực cạnh tranh như là một hiện tượng kinh tế vĩ mô và cố gắng tìm kiếm của nhân tố tác động đến cạnh tranh này thông qua các yếu tố của môi trường vĩ mô như tỷ giá, lãi suất, thâm hụt ngân sách (Hauner và Peiris, 2005; Claessens và Laeven, 2003;). Nhiều nhà kinh tế học khác như Hempell (2002); Bikker và Groeneveld (2002) lại chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh của NHBL xuất phát từ sự phong phú của khách hàng và thu nhập của họ, khi số lượng khách hàng (được biểu thị thông qua số liệu về số lượng lao động của quốc gia) và thu nhập của họ tăng lên thì mức độ cạnh tranh của thị trường NHBL cũng diễn ra gay gắt hơn.
Bổ sung vào những nghiên cứu trên Fu và Shelagh (2009) khi nghiên cứu trường hợp của 55 quốc gia phát triển đã chỉ ra mức độ cạnh tranh có xu hướng tỉ lệ thuận với độ giàu có về mặt tài nguyên của các quốc gia. Ông lý giải rằng khi một quốc gia được hưởng nhiều ưu đãi về tài nguyên, cộng với trình độ khoa học công nghệ cao sẽ trở thành những trung tâm tài chính-ngân hàng của thế giới và nơi đây mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng là vô cùng lớn. Thời gian gần đây, nhiều nghiên cứu tin rằng năng lực cạnh tranh của NHTM chịu tác động rất lớn từ các chính sách của chính phủ (Buchs và Mathisen, 2005; Claessens, 2006; OECD, 2005). Cũng có phương pháp tiếp cận khác của Hondroyiannis và cộng sự (1999); Yeyati và Micco(2007) cho rằng sự khác biệt trong quan điểm quản lý và hiệu quả trong các hoạt động kinh tế chính là những yếu tố quyết định chủ yếu đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung.
Một số nghiên cứu khi xem xét các tác động của các quy định hành chính và giới hạn pháp lý như Barth và cộng sự (2001) đã chỉ ra một loạt các yếu tố như các quy định về chuyển tiền, kiều hối, quy định hạn chế xuất nhập cảnh có thể là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến kết quả hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, Barth và cộng sự (2003) phát biểu các yêu cầu về tiêu chuẩn huy động vốn và giải ngân vốn chặt chẽ hơn sẽ gây những tác động tiêu cực đến khả năng huy động và sử dụng vốn của ngân hàng. Sự cứng nhắc trong thủ tục liên quan sẽ dẫn đến các chi phí chung và lãi suất tăng cao trong khi khách hàng của NHBL đòi hỏi sự linh hoạt trong lãi suất và hình thức giải ngân của ngân hàng. Chính điều này có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng nếu những quy định này được áp dụng trong một thời gian dài.
Các cấp độ trong nghiên cứu năng lực cạnh tranh cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế học. Irina (2000) đã chỉ ra năng lực cạnh tranh là một khái niệm đa chiều và có sự khác biệt rõ rệt giữa các cấp độ tổ chức. Nghiên cứu đưa ra ba quản điểm nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh bao gồm cấp quốc gia, cấp ngành và cấp doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả giới hạn cấp độ nghiên cứu ở lĩnh vực ngân hàng bán lẻ trong ngành tài chính-ngân hàng.
Một số nghiên cứu chuyên sâu về năng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng tại Mỹ giai đoạn 1983-2005 của Fu và Shelagh (2009) cho biết khi ngân hàng tập trung một thị trường chuyên biệt thì lợi nhuận thu được sẽ cao hơn 20% so với việc dàn trải trên nhiều đoạn thị trường khác nhau. Kết luận này đã đưa ra nhiều khuyến nghị chính sách xác đáng cho các ngân hàng thương mại khi muốn gia tăng lợi nhuận nên tập trung vào một phân khúc phù hợp với năng lực của bản thân nhất nhằm tối ưu hóa khả năng hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, những nghiên cứu của Burger màn Menon (2009) lại cho thấy không có mối liên hệ rõ ràng giữa việc nâng cao năng lực cạnh tranh với việc đa dạng hóa phân khúc thị trường của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu Những mô hình được sử dụng cho những nghiên cứu trên cũng rất đa dạng.
Rất nhiều các nghiên cứu đã sử dụng mô hình của Panzar và Rosse (1986) để đánh giá vị thế cạnh tranh trong thị trường ngân hàng. Trong mô hình này, Panzar và Rosse đã đánh giá các điều kiện cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng của các nước có thu nhập trung bình như Hy Lạp. Phát triển mô hình của Panzar và Rosses, một số biến độc lập đã được đưa thêm vào mô hình như những quy định về cạnh tranh tự do (Mathhews và công sự, 2007), tài sản trung bình, số lượng chi nhánh, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập (Fu và Shelagh, 2009). Một mô hình khác cũng được sử dụng trong phân tích là mô hình độ nhạy cảm của lãi suất (DIRS).
Mô hình này đánh giá tác động của lãi suất đối với năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Theo đó, việc quản lý thích hợp các yếu tố như lãi suất huy động và cho vay các kì hạn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng là một nhân tố quan trong đối với các ngân hàng trong việc xác định lợi thế cạnh tranh với các đối thủ. Moutinho và Philips (2002) bổ sung thêm yếu tố chiến lược là một trong những nhân tố có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Cuối cùng, rất nhiều nghiên cứu sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu tài chính để đánh giá năng lực toàn diện của một ngân hàng (Mathuva, 2009).
Theo đó, những chỉ tiêu như tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) là những chỉ báo quan trọng đánh giá năng lực ngành và dự báo cơ cấu thị trường trong tương lai. Tuy nhiên, Kitindi và cộng sự (2007) lại có ý kiến cho rằng những chỉ tiêu tài chính này là quá phức tạp với đại bộ phân dân chúng-những người là khách hàng chủ yếu của NHBL nên sự khác biệt của các chỉ báo này không ảnh hưởng đến quyết định chọn lựa ngân hàng của họ. Từ đó, Kitindi khuyến nghị ngân hàng nên sử dụng những chỉ tiêu khác gần gũi với đại bộ phân dân cư hơn để họ biết được điểm mạnh, yếu của từng ngân hàng, từ đó lựa chọn được ngân hàng phù hợp với mình hơn. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá để đánh giá tác động của các nhân tố năng lực cạnh tranh tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, trong đó hiệu quả kinh doanh thường được đo bằng các biến số tài chính như ROA, ROE.
Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bao số liệu (DEA) để ước tính hiệu quả cạnh tranh của các ngân hàng (Miller và Noulas, 1996; Tser-yieth Chen và cộng sự, 2005…). Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng các biến tài chính để đo năng lực cạnh tranh như quy mô vốn, dư nợ cho vay, tiền gửi thanh toán, ROA, ROE… Có nghiên cứu sử dụng cả biến phi tài chính kết hợp với biến tài chính khi các biến tài chính không đủ thông tin (Kitindi và cộng sự, 2007).