CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI SAU M&A 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại Chủ đề về năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại là chủ đề đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới, trong đó đã có nhiều công trình nghiên cứu có sử dụng các phương pháp Dupont, DEA, Capm, Probit, Logistic… để đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thương mại có đảm bảo tiêu chuẩn Camels hay Basel hay không. Để tập trung vào những nội dung nghiên cứu của luận án, tác giả đã tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan như: R.
Alton Gilbert và cộng sự (2002) đã nghiên cứu về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại Mỹ theo tiêu chuẩn CAMEL so với tiêu chuẩn SEER của các NHTM ở Mỹ trong giai đoạn 1990 -1998. Nghiên cứu của nhóm tác giả đã sử dụng mô hình nhị phân Probit để đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Mỹ theo bộ 5 tiêu chí C, A, M, E, L dựa trên các chỉ tiêu tài chính như quy mô vốn, đòn bảy tài chính, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản. Barnesa và Jose A.Lopez (2005) đã sử dụng phương pháp CAPM (Capital Asset Pricing Model) để nghiên cứu về chi phí vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, hệ thống thanh toán có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng ở Pháp giai đoạn 1990-2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí vốn càng lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tài chính của các ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao cho thấy ngân hàng kinh doanh hiệu quả, đồng thời làm cho khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, hệ thống thanh toán của một ngân hàng mà tốt sẽ thu hút được nhiều người thực hiện dịch vụ và từ đó làm tăng lợi nhuận ngoài cận biên.
Frank Heid với công trình “The cyclical effects of the Basel II capital requirements ” đã nghiên cứu về những tác động mang tính chu kỳ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo các nguyên tắc của Basel II, trong đó tác giả sử dụng tiêu chuẩn của Basel II để đo lường năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng ở Na Uy trong giai đoạn 1998-2002. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy các yếu tố như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng có ảnh hưởng đến quá trình hoạt 9 động của ngân hàng, vốn kinh doanh (tổng tài sản) cũng có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng (Frank Heid, 2007). Bên cạnh đó, John Tatom (2011) đã nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các ngân hàng thương mại.
Trong đó nguyên nhân chủ yếu là năng lực tài chính của các ngân hàng này. Nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L, từ đó tác giả tiến hành hồi quy theo Proxy để xác định nhân tố ảnh hưởng và kết quả cho thấy năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản. Sau đó tác giả sử dụng phương pháp hạ cấp để dự báo khả năng thất bại trong tương lai của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2003-2007. Alli Nathan và Edwin Neave (1992) đã áp dụng phương pháp biến ngẫu nhiên để phân tích hiệu quả hoạt động các ngân hàng Canada trong thời kỳ 1983- 1987.
Các tác giả đã sử dụng cách tiếp cận giá trị gia tăng và cách tiếp cận trung gian để ước tính hàm chi phí. Trong đó, tác giả đã sử dụng các biến về tài chính như: lao động, vốn, và các quỹ, cho vay thương mại và công nghiệp, các loại cho vay khác, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn… theo cách tiếp cận giá trị gia tăng, còn đối với cách tiếp cận trung gian các tác giả sử dụng các biến là: cho vay thương mại, công nghiệp, các loại cho vay khác, chứng khoán và đầu tư. Các kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn không có lợi thế về chi phí hơn hẳn các ngân hàng nhỏ điều này cũng tương đồng đối với nghiên cứu ở Mỹ đó là tính kinh tế nhờ quy mô đều quan sát thấy ở các ngân hàng nhỏ và lớn. Trong nghiên cứu về phá sản ngân hàng tại thị trường Indonesia, Judijanto và Khmaladze (2003) đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA để phân tích xác suất phá sản ngân hàng dựa trên các chỉ tiêu đo lường năng lực tài chính của ngân hàng.
Mười hai chỉ tiêu từ 32 chỉ tiêu tài chính đã được sử dụng để phân tích bao gồm: hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi (lợi nhuận trước thuế/chi phí nhân viên, Lợi nhuận/vốn chủ sở hữu, lợi nhuận/tài sản sinh lợi, lợi nhuận biên); an toàn vốn (vốn chủ sở hữu/tài sản sinh lợi, vốn chủ sở hữu/cho vay); chênh lệch lãi suất (lãi cận biên, thu nhập từ cho vay/chi phí lãi vay); tín dụng (bình quân lợi nhuận và chi phí của nguồn vốn); tính thanh khoản (tài sản thanh khoản/tổng tiền gửi); tiền gửi công ty thành viên/cho vay, chất lượng tài sản sinh lợi (dự phòng rủi ro/cho vay). Mẫu nghiên cứu bao gồm 213 ngân hàng mại trong giai đoạn 1994-1996 đã được tổng hợp và chia thành các nhóm tùy thuộc vào tình hình tài chính của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phá sản đỗ vỡ của ngân hàng là do sự yếu kém của năng lực tài chính bị chi phối bởi các chỉ tiêu về an toàn vốn, khả năng 10 sinh lời, hiệu quả hoạt động, tính thanh khoản. Podviezko và Ginevičius (2010) đã thực hiện nghiên cứu về tác động của các chỉ tiêu tài chính trong đánh giá tình hình tài chính và đo lường độ ổn định của ngân hàng.
Các tác giả đã sử dụng 10 chỉ tiêu tài chính theo tiêu chuẩn CAMELS để đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng tại Lithuania. CAMELS bao gồm các yếu tố: (i) Chỉ số an toàn vốn (Capital adequacy); (ii) Chất lượng tài sản (Asset quality); (iii) Quản trị (Management); (iv) Khả năng sinh lợi (Earnings); (v) Tính thanh khoản (Liquidity); (vi) Độ nhạy của ngân hàng với rủi ro của thị trường (Sensitivity to market risks). Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra bộ tiêu chí về tài chính để đánh giá mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng trong nước nhằm phục vụ cho khách hàng gửi tiền. Podviezko và Ginevičius (2011) nhận định cuộc khủng hoảng hiện tại đã làm gia tăng nguy cơ phá sản của ngân hàng.
Kế thừa nghiên cứu các đánh giá ngân hàng trước đó, nhóm tác giả đã phát triển quy trình phân tích đánh giá NHTM. Theo đó, bước lựa chọn chỉ tiêu được xem là bước khởi đầu và là bước quan trọng nhất. Nhóm tác giả đã chọn lựa 10 chỉ tiêu theo hệ thống tiêu chuẩn CAMELS và từ kết quả đạt được, kết luận yếu tố định lượng đóng vai trò rất quan trọng trong đo lường sự ổn định và rủi ro của ngân hàng. Gupta và Aggarwal (2012) đã dùng 12 chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hoạt động của các ngân hàng tại Ấn Độ trước và sau khi gia nhập WTO, đặc biệt thời điểm Ấn Độ phải mở cửa ngành ngân hàng vào năm 2005.
Nghiên cứu của tác giả không sử dụng phương pháp phân tích nào cụ thể mà chỉ sử dụng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu tài chính tập trung vào đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng như: cơ cấu vốn, chất lượng tài sản, tính thanh khoản. Nghiên cứu cho thấy chính sách mở cửa lĩnh vực ngân hàng đã có những tác động tích cực. Trong cách đánh giá tình hình tài chính cho từng ngân hàng, Lee và cộng sự (2012) đề xuất các chỉ tiêu tài chính trong phân tích định lượng. Các chỉ tiêu được phân thành nhiều nhóm khác nhau dựa trên: tỷ số về lãi suất (6 chỉ tiêu), chỉ tiêu lợi nhuận (14 chỉ tiêu), cấu trúc vốn (7 chỉ tiêu), chất lượng tín dụng (11 chỉ tiêu), tính thanh khoản (5 chỉ tiêu).
Cấu trúc này dựa trên hệ thống tiêu chuẩn CAMELS nhưng có sự điều chỉnh, bổ sung từ các thông tin trong phương pháp xếp hạng của Fitch trong đánh giá phân tích các định chế tài chính và đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, Nguyễn Việt Hùng (2008) đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2005, trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng các tiêu chí Camel để đo lường năng lực tài chính của NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu tài chính. Sau đó hồi quy Tobit để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: tài sản 11 của ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tỷ lệ tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ lệ nợ xấu,… có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại trong giai đoạn đó.
Phan Thị Hằng Nga (2013) đã đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá năng lực tài chính của 28 Ngân hàng thương mại Việt Nam theo tiêu chuẩn Camel trong giai đoạn 2003-2012, tác giả đã sử dụng mô hình Probit để kiểm định 13 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam gồm: Quy mô vốn vốn chủ sở hữu; Đòn bẩy tài chính; Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; Dư nợ/tổng tài sản có; Nợ xấu/ Tổng dư nợ (noxau_duno); ROA; ROE; NIM; Chỉ số chi phí hoạt động; Tỷ lệ thanh khoản tài sản; Hệ số đảm bảo tiền gửi; Hệ số thanh khoản ngắn hạn; Dư nợ cho vay/ Tiền gửi, tất cả các nhân tố trên đều có sự tác động nhất định đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.