CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về dịch vụ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về khách hàng cá nhân và dịch vụ khách hàng cá nhân Trong giáo trình quản trị quan hệ KH do Thạc sỹ Nguyễn Hùng Cường và PGS.Tiến sỹ Trương Đình Chiến biên soạn, nhà lý luận kinh tế nổi tiếng Peter Drucker của Mỹ đã từng nói rằng: "Mục đích của kinh doanh là tạo ra khách hàng". Theo Philip Kotler (2000): “Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”.
Với ngân hàng KH cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của KH đối với ngân hàng. Cho đến bây giờ định nghĩa về khách hàng cá nhân chưa có định nghĩa chính xác. Theo cách phổ biến : “Khách hàng cá nhân là một người hoặc một nhóm người đã, đang, sẽ sử dụng dịch vụ và sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc gia đình của họ”.Mishkin (2001): “Dịch vụ khách hàng cá nhân là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông”.
Hiện nay tại Việt Nam các NHTM cung cấp dịch vụ cho khách hàng cá nhân và có quan hệ chặt chẽ với khách hàng cá nhân. Trong phạm vi đề tài này, dịch vụ khách hàng cá nhân tác giả nghiên cứu trên góc độ là tất cả các dịch vụ tài chính được NHTM cung cấp trực tiếp tới đối tượng khách hàng là các cá nhân. Vì vậy, dịch vụ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại là toàn bộ các dịch vụ và sản phẩm được cung ứng tới từng cá nhân thông qua tất cả các kênh của ngân hàng như mạng lưới chi nhánh, trang web, call center, mobile banking. Theo khái niệm của Tổ chức Thương mại thế giới: “Ngân hàng bán lẻ là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: mở tài khoản, gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm .” Từ những khái niệm trên, có thể hiểu dịch 7 vụ khách 8 hàng cá nhân của NHTM là “các dịch vụ ngân hàng được cung ứng tới từng cá nhân riêng lẻ, hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới kênh phân phối truyền thống hoặc mạng lưới phân phối điện tử”.
Chính vì vậy, một KHCN có thể sử dụng một hoặc nhiều dịch vụ của ngân hàng như trả lương qua tài khoản, dùng thẻ ATM rút tiền, vay tín chấp bằng thẻ tín dụng, tiết kiệm theo các kỳ hạn hay sử dụng sản phẩm thấu chi, các dịch vụ thanh toán sinh hoạt như trả tiền điện, nước, điện thoại di động, truyền hình, học phí… bằng tài khoản ngân hàng thông qua các mạng lưới truyền thống như Chi nhánh/ phòng giao dịch của ngân hàng hoặc thông qua kênh điện tử mà ngân hàng cung cấp bằng cách sử dụng các phương tiện cá nhân như: mạng internet, máy tính bảng hay điện thoại di động… Trong phạm vi đề tài dịch vụ KHCN hay dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nội dung tương đồng mà tác giả sẽ đề cập trong suốt đề tài luận văn. Vai trò của dịch vụ khách hàng cá nhân 1. Đối với nền kinh tế Theo tapchitaichinh.vn, dịch vụ khách hàng cá nhân có vai trò đối với nền kinh tế: “ Gia tăng quá trình luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế và đảm bảo chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và các thành phần kinh tế theo hướng tiến bộ và hiện đại; hình thành các ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao, các khu vực, vùng kinh tế phát triển năng động, hiệu quả, bền vững; Đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế. Dịch vụ khách hàng cá nhân sẽ làm rút ngắn thời gian giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, làm cho tiền tệ có thể nhanh chóng chuyển từ tay khách hàng đến ngân hàng và ngược lại; Góp phần hạn chế thanh toán tiền mặt, qua đó thúc đẩy chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế tình trạng lạm phát cung tiền.
Đối với ngân hàng Theo tapchitaichinh.vn, dịch vụ khách hàng cá nhân có vai trò đối với ngân hàng: “ Giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng; Hỗ trợ đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, đem lại doanh thu chắc chắn, ít rủi ro, đa dạng hóa các sản 9 phẩm, dịch vụ phi ngân hàng, từ đó gia tăng, phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng; Dịch vụ khách hàng cá nhân là cầu nối vững chắc giữa ngân hàng và khách hàng trong hiện tại và tương lai. Qua đó, góp phần giữ vững lượng khách ổn định, giúp vượt qua khó khăn trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt và dịch bệnh diễn biến phức tạp. Đối với khách hàng Theo tapchitaichinh.vn, dịch vụ khách hàng cá nhân có vai trò đối với khách hàng: “ Dịch vụ khách hàng cá nhân đem lại sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho người dân trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Các dịch vụ khách hàng cá nhân phát triển sẽ tạo điều kiện tốt để các hộ kinh doanh cá thể và khách hàng cá nhân có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và các dịch vụ khách hàng cá nhân tiên tiến khác; Dịch vụ khách hàng cá nhân góp phần thúc đẩy các hộ kinh doanh cá thể phát triển, tạo nên tính năng động, hiệu quả trong phát triển loại hình này.
Với vai trò rất quan trọng của các hộ kinh doanh cá thể trong việc phát triển kinh tế và an sinh xã hội, các NHTM lớn hiện nay tại Việt Nam đều hết sức quan tâm, dành các nguồn lực tài chính, ưu tiên cán bộ có năng lực trình độ để phát triển các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhằm hướng tới đối tượng khách hàng tiềm năng này. Đặc điểm của dịch vụ khách hàng cá nhân 1. Khách hàng Đối tượng khách hàng sửdụng dịch vụ khách hàng cá nhân lớn. Với số lượng khách hàng đông và nhu cầu của khách hàng ngày càng cao nhờ sự hiện đại hóa đời sống và mức sống của người dân Việt nam ngày càng đi lên nên đây là mảng thị trường hấp dẫn và đầy tiềm năng đối với ngân hàng.
Các khách hàng cá nhân rất đa dạng và khác nhau về thu nhập, mức tiêu dùng, vị trí xã hội, lứa tuổi, giới tính, lối sống, dân tộc, sở thích, thói quen, nhu cầu của khách hàng cá nhân đa dạng nên sản phẩm dịch vụ KHCN rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của KHCN bao gồm văn hóa (văn hóa của dân tộc, văn hóa đặc thù, tầng lớp xã hội), xã hội (gia đình, vai trò và địa vị), cá nhân (tuổi tác, nghề nghiệp, phong cách sống, hoàn cảnh sống), tâm lí (động cơ nhận 1 thức và kiến thức, niềm tin và quan điểm ). Theo Kotler & Levy: “ hành vi người dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ”. Do đó, dịch vụ KHCN mang tính thời điểm rất cao và không ổn định.
Các NHTM để thành công trong việc cung cấp sản phẩm/dịch vụ cần có các chính sách phù hợp, thực hiện phân đoạn thị trường, phân khúc khách hàng, theo nhu cầu nhận biết được các yếu tố tác động đến hành vi của người tiêu dùng, đồng thời cần đáp ứng/ đưa ra các tính năng, đặc điểm mới của sản phẩm/dịch vụ đa dạng và không ngừng cải tiến. Số lượng và quy mô giao dịch Ngân hàng bán lẻ có cơ sở khách hàng lớn bao gồm KHCN và khách hàng là hộ gia đình cá thể do đó số lượng lớn các giao dịch diễn ra hàng ngày và giá trị các giao dịch thường không lớn. Do đó Ngân hàng bán lẻ phải quản lý đồng thời các giao dịch hàng loạt nên chi phí giao dịch cho dịch vụ KHCN rất lớn, tuy nhiên giá trị các giao dịch nhỏ nên rủi ro trong mỗi giao dịch cũng không nhiều do đó góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng bán lẻ. Công nghệ thông tin Các khách hàng sử dụng dịch vụ KHCN thường phân bố tập trung với các khu vực địa lý rộng, nhu cầu mong muốn sử dụng sản phẩm/dịch vụ ngân hàng một cách dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại cũng như tránh tiếp xúc khi có dịch bệnh.
Do đó để không ngừng phát triển dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân đáp ứng nhu cầu của họ đòi hỏi ngân hàng bán lẻ cần ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào các dịch vụ KHCN. Với công nghệ hiện đại nhiều dịch vụ ngân hàng được cung cấp cho KHCN bên cạnh các sản phẩm/ dịch vụ trên kênh truyền thống, các giao dịch thực hiện trực tuyến cung cấp cho KHCN như mở tài khoản, chuyển tiền tự động, tiết kiệm, thanh toán, mở thẻ thanh toán, cho vay tín chấp qua internet banking, mobile banking; rút tiền/ nạp tiền tự động qua ATM, thanh toán mua hàng qua máy POS. Khách hàng có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng như tài khoản trên các kênh trực tuyến của ngân hàng chứ không còn phụ thuộc vào các kênh truyền thống của ngân hàng và không còn phụ 1 thuộc vào thời gian hành chính của ngân hàng hay phải tới trực tiếp chi nhánh/ phòng giao dịch của ngân hàng. Trong bối cảnh các NHTM hiện nay việc cạnh tranh, thu hút và chiếm lĩnh thị trường khách hàng là không thể tránh khỏi.
Chính vì vậy lợi thế cạnh tranh của ngân hàng bán lẻ sẽ dựa trên nền tảng công nghệ số hiện đại là yếu tố mang lại sự phát triển nhanh và bền vững cho NHTM, đồng thời đáp ứng nhu cầu của KHCN và nâng cao trải nghiệm cho người dùng sản phẩm/dịch vụ KHCN.