CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ VÀ PHÁT TRIÊN DỊCH VỤ 1. TÔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VÀ PHÁT TRIÊN DỊCH VỤ 1. Dịch vụ và bản chất của dịch vụ - Dịch vụ: Được định nghĩa là bất kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và cung ứng này là vô hình và không tạo ra bắt kỳ sự sở hữu về vật chất cụ thẻ. Việc sản xuất ra dịch vụ có thể hoặc không sử dụng.
các hỗ trợ của sản phẩm vật chất.[3] - Bản chất của dịch vụ|4]: + Tính vô hình: Có nghĩa là dịch vụ không thể nhìn thấy, cảm nhận, nghe hoặc ngửi được trước khi khách hàng mua và sử dụng nó. Do vậy để giảm tính không chắc chắn, khách hàng tìm kiếm những “tín hiệu” cho chất lượng dịch vụ. Khách hàng cảm nhận chất lượng sản phẩm từ nơi chốn, con người, giá cả, trang thiết bị và việc truyền thông mà họ tiếp nhận được. Tuy nhiên, nhiệm vụ của các nhà cung ứng dịch vụ là tăng thêm các yếu tố hữu hình vào dịch vụ theo cách tốt nhất.
Trong khi các nhà làm marketing sản phẩm cố gắng thêm các yếu tố vô hình vào sản phẩm hữu hình của họ, thì ngược lại những người làm marketing dịch vụ lại cố gắng thêm các yếu tố hữu hình vào các cung ứng vô hình của họ. + Tính không thể tách rời: Sản phẩm hữu hình được sản xuất, tồn kho để bán sau đó và có thể sẽ tiêu dùng sau đó nữa. Ngược lại, dịch vụ trước hết phải được bán, sau đó mới được sản xuất và tiêu dùng vào cùng một thời điểm. Tính không thẻ tách rời của dịch vụ có nghĩa là dịch vụ không thé tach rời khỏi người cung ứng dịch vụ, cho dù người cung ứng dịch vụ có thể là con người hoặc máy móc.
+ Tinh đa dạng và không ôn định về chất lượng: Có nghĩa là chất lượng. của dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng chúng cũng như khi nào, ở đâu và chúng được cung ứng như thế nào. + Tinh không lưu giữ được: Dịch vụ không thể lưu kho để bán hoặc sử dụng sau đó. Tính không thể lưu kho của dịch vụ không có vấn đề gì nếu nhu cầu đều đặn.
Tuy nhiên, khi nhu cầu biến đổi nhiều thì các đơn vị cung ứng dịch vụ sẽ gặp khó khăn, sản phẩm dịch vụ nếu không được sử dụng sẽ mắt đi theo thời gian. Phát triển dịch vụ Theo từ điển bách khoa Việt Nam "Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp". Phát triển dịch vụ là việc mở rộng số lượng và không ngừng đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ, dịch vụ giá trị gia tăng cùng với các chính sách marketing thích ứng với môi trường kinh doanh và nhu cầu khách hàng, để tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh cao trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng Phát triển ở đây có nghĩa là phải luôn đưa ra được dịch vụ mới, đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng. Sự phát triển dịch vụ ở đây được phân tích trên hai khía cạnh: phát triển về chiều rộng và phát triển về chiều sâu.
Phát triển về chiều rộng là đa dạng hóa các loại hình dịch vụ. Không chỉ duy trì các hoạt động dịch vụ truyền thống mà còn đa dạng các hình thức cung cấp, phát triển các dịch vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao. Phát triển về chiều sâu là nâng cao chất lượng dịch vụ, hoàn thiện các dịch vụ hiện có. Khi giữa các ngân hàng không có sự phân biệt về đa dạng hóa loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định thành công của mỗi ngân hàng.
CAC YEU TO ANH HUONG DEN PHAT TRIEN DICH VU 1. Khách hàng Các quyết định liên quan đến hoạt động phát triển sản phẩm mới, thay đổi sản phẩm hiện tại hoặc loại bỏ sản phẩm lỗi thời phải dựa trên nhu cầu khách hàng và xu hướng khách hàng. Việc hiểu được khách hàng muốn gì và làm thế nào để chuyển giao sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là nguyên tắc cơ bản của bất kỳ chiến lược phát triển dịch vụ nào. Khách hàng có thể không cảm thấy rằng họ có nhu cầu thực sự về dich vụ, cần phải đánh giá yêu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm khác nhau.
Giữa khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức có sự khác nhau về dịch vụ và hành vi tiêu dùng nên tìm hiểu và thỏa mãn các nhu cầu của họ là điều rất quan trọng. Tính toán nhu cầu và yêu cầu của khách hàng trong quá trình đưa ra các quyết định về phát triển dịch vụ là cần thiết. Điều này có nghĩa là không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiện tại của khách hàng mà còn phải nhắm đến việc thỏa mãn nhu cầu tương lai của khách hàng 122. Đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là một nguồn thông tin có giá trị được các nhà quản trị sử dụng để hỗ trợ cho nhiều loại quyết định khác nhau ngoài các quyết định liên quan đến phát triển dịch vụ.
Những hành động của đối thủ cạnh tranh sẽ cho chúng ta biết họ nhận thức ra sao về các xu hướng trên thị trường. Điều này có thể dùng để củng có lại các giả định về những thay đổi trên thị trường hoặc cảnh bảo việc đã bỏ qua xu hướng quan trọng nào đó có thể gây nguy hại quyết định phát triển dịch vụ. Công nghệ Công nghệ có ảnh hưởng lớn đến phát triể dịch vụ. Công mới có thể hỗ trợ cho những thay đổi và phát triển của sản phẩm dịch vụ cũng như có thể 10 dẫn dắt và tạo ra sản phẩm mới hoặc điều chỉnh, bỗ sung và loại trừ dịch vụ hiện có.
Điều quan trọng cần lưu ý là phải đảm bảo công nghệ không trở thanh yi có tính chi phối, đính hướng so với nhu cầu của khách hàng. Nhiều sự phát triển sản phâm, dịch vụ mới yêu cầu phải có cơ sở hạ tầng phù hợp để khách hàng có thể sử dụng các dịch vụ được cung cấp. Ngoài ra, các tiến bộ về công nghệ được thực hiện thành công cũng cần đảm bảo yêu cầu rằng khách hàng phải sử dụng được và chúng cũng phù hợp với những thay đổi trong kiểu hành xử của khách hàng vì nếu khách hàng chấp nhận sử dụng mới chưa đủ lớn thì việc đưa công nghệ mới vào phát triển dịch vụ chứa đựng rủi ro thất bại cao. NỘI DUNG PHÁT TRIÊN DỊCH VỤ 143.
Xác định mục tiêu Các mục tiêu của tổ chức là sự phát triển tiếp theo của việc xác định nhiệm vụ và là cái mà tổ chức này muốn tìm kiếm qua các hoạt động dài hạn của nó. Nhiệm vụ của một tổ chức cuối cùng phải được biến thành các mục tiêu cụ thể và có thể đo lường được, cam kết hành động mà nhờ đó nhiệm vụ của tô chức có thể được thực hiện. Mục tiêu của doanh nghiệp là gia tăng khả năng cung ứng sản phẩm nghe nhìn, nghiên cứu công nghệ mới, tăng lợi nhuận để hỗ trợ việc nghiên cứu, gia tăng doanh số, giảm chỉ phí sản xuất, gia tăng thị trường, mở rộng thị trường, gia tăng tính sẵn sàng của sản phẩm, giảm giá bán sản phẩm. Phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm dịch vụ a.
Đo lường và dự báo nhu cầu Theo quan diém Marketing, thị trường là tập hợp những người hiện đang mua và những người sẽ mua một loại sản phẩm nhất định. Một thị trường là tập hợp những người mua và một ngành sản xuất, là tập hợp những người 11 ban. Như vậy quy mô của thị trường gắn liền với số lượng người mua có thể có đối với một loại sản phẩm nhất định nào đó mà người bán cống hiến cho. thị trường.
Những người tìm mua bắt kỳ sản phẩm nào đó trong thị trường có ba đặc điểm: sự quan tâm, thu nhập, và khả năng tiếp cận thị trường. Để đo lường và dự báo nhu cầu người ta thường sử dụng các phương. pháp như: ước lượng tổng nhu cầu thị trường, ước lượng nhu cầu thị trường khu vực, ước lượng doanh số và thị phần tra ý định mua của khách hàng thông qua phỏng vấn hoặc phát phiếu điều tra, tổng hợp ý kiến của lực lượng bán hàng, ý kiến của các nhà chuyên môn, trắc nghiệm thị trường, phân tích thống kê nhu cầu, phân tích chuỗi thời gian. Phân đoạn thị trường Phân đoạn thị trường là phân chia thị trường thành những phần khác biệt (nhưng trong mỗi phân lại tương đối đồng nhất) bằng những tiêu thức thích hợp, qua đó doanh nghiệp có thể triển khai các hoạt động marketing phù hợp.
cho một hay một số phân đoạn thị trường, nhờ vậy mà doanh nghiệp sẽ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng, thành đạt các mục tiêu Marketing của mình. Quá trình phân chia thị trường thành từng nhóm có những nhu cầu tương tự nhau, quan điểm như nhau và ứng xử như nhau đối với những sản phẩm cung. ứng nhất định. Mục đích của việc phân đoạn thị trường để công ty có thể có cơ hội tốt nhất phục vụ các phân đoạn nhất định, gọi là các phân đoạn thị trường mục tiêu hay là thị trường mục tiêu.
Công ty sẽ tiến hành định vị sản phẩm, thiết lập các chính sách marketing và triển khai thực hiện các chương. trình marketing thích hợp cho phân đoạn thị trường mục tiêu. Phân đoạn thị trường trong dịch vụ thường căn cứ theo các tiêu thức sau: yếu tố theo địa lý, yếu tố nhân khẩu học, yếu tố tâm lý, yếu ố hành vi. Lựa chọn thị trường mục tiêu Thị trường mục tiêu bao gồm một nhóm khách hàng (cá nhân và tổ chức) mà chương trình marketing của người bán hàng hóa nhằm vào.
Một doanh nghiệp có thể có một hay nhiều thị trường mục tiêu Doanh nghiệp phải lựa chọn thị trường mục tiêu, tức là doanh nghiệp tập. trung vào đối tượng khách hàng nào hap din nhất dé phục vụ thì thuận lợi cho. doanh nghiệp: phục vụ tắt cả các khách hàng trên địa bàn, hay chọn một nhóm hoặc một số nhóm khách hàng. Để lựa chọn thị trường mục tiêu doanh nghiệp tiến hành thực hiện: * Đánh giá các phân đoạn thị trường, doanh nghiệp cần xem xét ba yếu tố: -_ Ouy mô và mức tăng trưởng của thị trường: Qui mô của mỗi phân đoạn thị trường phải phù hợp với khả năng đáp ứng và quan điểm phục vụ của doanh nghiệp.