Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SĨ QUAN TRẺ SƯ ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN 1. Khái niệm và vai trò của sĩ quan trẻ trong sư đoàn bộ binh 1. Khái niệm sĩ quan trẻ trong sư đoàn bộ binh Sĩ quan trẻ là một khái niệm được quan tâm nghiên cứu nhiều trong quân đội, xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận, đặc thù của chuyên ngành khoa học mà mỗi nghiên cứu lại có những quan niệm khác nhau, cụ thể: Lại Ngọc Hải (2002) đã thực hiện nghiên cứu ở Việt Nam và cho rằng “Sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, có tuổi đời không quá 35 tuổi, đảm nhiệm các chức vụ chủ yếu ở cấp phân đội” [8, tr. Nguyễn Bá Dương (2008) đã thực hiện nghiên cứu ở Việt Nam và cho rằng “Đội ngũ sĩ quan trẻ là một bộ phận cơ bản cấu thành đội ngũ cán bộ, sĩ quan QĐND Việt Nam.
Họ là những sĩ quan đang làm nhiệm vụ ở đơn vị cơ sở, giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn hoặc tương đương, có cấp bậc quân hàm từ thiếu úy đến trung tá, với tuổi đời từ 20 đến 30, tuổi quân từ 5 đến 12 năm” [2, tr. Phạm Xuân Hảo (2010) lại cho rằng “Sĩ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là những sĩ quan có tuổi đời dưới 31, đảm nhiệm chức vụ cán bộ trung đội, đại đội, mang quân hàm cấp úy” [9, tr. Hoàng Đình Tỉnh (2012) lại quan niệm: “Sĩ quan trẻ là bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ quân đội, đang ở độ tuổi không quá 30, cấp bậc quân hàm chủ yếu là cấp úy và thường được giao trọng trách chỉ huy, lãnh đạo, quản lý ở cấp phân đội hoặc tương đương cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam” [28]. 14 Hoặc định nghĩa của Nguyễn Văn Kí (2023) cho rằng: “Sĩ quan trẻ là một bộ phận của đội ngũ sĩ quan quân đội, những người có chức vụ cán bộ cấp phân đội - nguồn cán bộ kế cận cán bộ cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam” [12].
Khuất Trọng Nam (2021) cho rằng “Đội ngũ sĩ quan trẻ là một bộ phận sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là lực lượng nguồn kế cận, kế tiếp đội ngũ sĩ quan cấp chiến dịch, chiến lược trong xây dựng, phát triển quân đội; có tuổi đời dưới 35, cấp bậc quân hàm từ thiếu úy đến thiếu tá, giữ các chức vụ cán bộ cấp phân đội (cấp trung đội, đại đội và tiểu đoàn); là lực lượng chính trong tổ chức, giáo dục, huấn luyện, rèn luyện bộ đội và thực thi nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Vai trò đó đòi hỏi các sĩ quan trẻ phải có trình độ văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng” [18]. Mặc dù có những diễn đạt khác nhau nhưng trong quan điểm tiếp cận của các tác giả trên cũng có những điểm tương đồng, theo đó việc xác định SQT thường liên quan đến yếu tố lứa tuổi, quân hàm và chức vụ, vị trí công tác.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả quan niệm: Sĩ quan trẻ trong sư đoàn bộ bình là những người có tuổi đời từ 35 tuổi trở xuống được biên chế trong sư đoàn bộ binh, quân hàm từ cấp úy đến cấp tá, giữ các chức vụ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn, đang trực tiếp quản lý chiến sĩ, trực tiếp huấn luyện chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Vai trò của sĩ quan trẻ trong sư đoàn bộ binh Đội ngũ SQT trong sư đoàn bộ binh là một bộ phận cán bộ luôn giữ vai trò quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị cấp phân đội và với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của SĐBB. Biểu hiện cụ thể: Thứ nhất, SQT có vai trò quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của 15 quân đội, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên và nhiệm vụ chính trị của đơn vị. SQT là lực lượng gần gũi nhất với cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị.
Đội ngũ SQT là những người quán triệt và trực tiếp cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và cấp mình thành kế hoạch, nội dung, chương trình hành động và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Ngoài ra, SQT còn tham gia đóng góp ý kiến, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy cấp trên về chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Trong điều kiện chiến tranh xảy ra, SQT là lực lượng trực tiếp chiến đấu và chỉ huy bộ đội chiến đấu. Thứ hai, là lực lượng quan trọng trong việc trực tiếp quản lý, huấn luyện, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền.
Đội ngũ SQT đóng vai trò là những nhà giáo dục, người thân trong gia đình, người đồng chí, người bạn gần gũi, thân thiết với cán bộ, chiến sĩ cấp dưới trong quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách “Quân đội Lào Ít-xa-la”. Là người chủ trì mọi khía cạnh hoạt động của đơn vị cấp phân đội, SQT phải trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền theo điều lệnh, điều lệ quân đội. Đồng thời, thông qua huấn luyện, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện mà hình thành ở họ những phẩm chất nhân cách của người quân nhân cách mạng. Thứ ba, tham gia xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và các tổ chức quần chúng vững mạnh.
SQT phần lớn đều là đảng viên và tham gia vào các tổ chức Đảng, Đoàn với các vị trí phó bí thư, bí thư chi đoàn, tổ trưởng đảng, chi ủy viên, phó bí thư, bí thư chi bộ ở đại đội, đảng ủy viên tiểu đoàn,. Trong tổ chức chỉ huy, SQT chủ yếu là cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn, là những người trực tiếp tổ chức, điều hành, quản lý mọi khía cạnh hoạt động của đơn vị cấp phân đội. SQT với tư cách là người đứng đầu các tổ chức của đơn vị, chịu trách nhiệm trước Đảng, trước lãnh đạo, chỉ huy cấp trên về toàn bộ hoạt động xây dựng các tổ chức, các lực lượng của đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, đồng thời đảm bảo cho các tổ chức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. 16 Thứ tư, SQT là những người tổ chức, thiết lập và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp với chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân.
Cho dù đóng quân ở địa bàn nào, việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gắn bó với nhân dân luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các đơn vị quân đội. SQT hiện nay đều là lực lượng lãnh đạo, chỉ huy trong các đơn vị cấp phân đội. Để hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, chính họ là những người đi đầu trong việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gắn bó với chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân, làm tốt công tác dân vận. Thực hiện tốt nhiệm vụ đó, sẽ giúp Quân đội gần nhân dân, hiểu nhân dân, huy động được sức mạnh của nhân dân, qua đó tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.
Khái niệm và tiêu chí đánh giá chất lượng sĩ quan trẻ trong sư đoàn bộ binh 1. Khái niệm chất lượng sĩ quan trẻ Chất lượng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống, nhưng tùy theo góc độ xem xét mà người ta có định nghĩa khác nhau. Theo triết học duy vật biện chứng, chất lượng là tính quy định bản chất của sự vật; tính quy định đó giúp phân biệt sự vật này với sự vật khác. Chất lượng được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với số lượng; sự tác động biện chứng này tạo cho sự vật tồn tại, vận động, phát triển không ngừng.
Trong lĩnh vực kinh tế, chất lượng được quan niệm về tính chất của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn những yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện xác định kỹ thuật kinh tế, xã hội. Nói cách khác, “chất lượng là một khái niệm tương đối, động, đa chiều. Chúng ta không thể nói đến chất lượng như một khái niệm nhất thể; chất lượng cần được gắn với một thực thể, sự vật, sự việc nào đó nhằm phản ánh các đặc tính vốn có của nó so với yêu cầu đặt ra” [27, tr. 17 Tiếp cận khái niệm “chất lượng” từ góc độ quản trị nguồn nhân lực.
Ở góc độ tiếp cận này, có một số quan điểm về chất lượng như sau: PGS, TS Nguyễn Tiệp: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực”. TS Vũ Thị Mai: “Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”. PGS, TS Mai Quốc Chánh và TS Trần Xuân Cầu: “Chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. Các khái niệm nêu trên đều thống nhất chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái của nguồn nhân lực biểu hiện mối quan hệ bản chất giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực [Dẫn theo 27, tr.
Cụ thể hơn, chất lượng nguồn nhân lực được phản ánh thông qua trạng thái về thể lực, trí lực, phẩm chất và mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức. Cùng góc độ tiếp cận này, theo tác giả Đoàn Văn Tình: Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái phản ánh các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn của nguồn nhân lực [27, tr. Từ cách tiếp cận trên, trong phạm vi luận văn quan niệm: “chất lượng sĩ quan trẻ là trạng thái phản ánh các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn của người sĩ quan trẻ”.