Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài liên quan đến trí tuệ 1. Các nghiên cứu về bản chất trí tuệ Trí tuệ luôn là vấn đề hấp dẫn thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có tâm lý học. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ và những ứng dụng của trí tuệ vào các lĩnh vực khác nhau của xã hội.
Bên cạnh các nghiên cứu về trí tuệ logic truyền thống được đo bằng các trắc nghiệm IQ, hiện nay đã có nhiều các nghiên cứu trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã hội. Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc được quan tâm từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, tiêu biểu có các tác giả Mayer và Salovey, R.Goleman…Theo quan điểm của các tác giả này, trí tuệ cảm xúc là tổ hợp những năng lực liên quan đến khả năng hiểu biết, quản lý, điều khiển cảm xúc của bản thân và người khác. Trong khi trí tuệ xúc cảm là những năng lực tối quan trọng tồn tại trong mỗi con người ở góc độ cá nhân đơn lẻ, thì trí tuệ xã hội mở rộng phạm vi nghiên cứu ra một nhóm cá nhân, góp phần giải đáp những tác động đa chiều thường nảy sinh trong cuộc sống xã hội. Các công trình nghiên cứu E.
Eysenck chỉ ra rằng, trí tuệ xã hội liên quan đến năng lực của một cá nhân để hiểu, tương tác với người khác, để tham gia, hành động thích ứng với các tương tác xã hội. Có thể thấy rằng, các nghiên cứu này đã chỉ ra bản chất, vai trò quan trọng của trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã hội trong đời sống và hoạt động của con người. Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các loại trí tuệ phi logic này trong đời sống xã hội hiện nay, tuy nhiên xét cho cùng đó là trí tuệ cá nhân (trí tuệ tâm trắc) được biểu hiện trong những lĩnh vực cảm xúc, xã hội. Do vậy, trí tuệ logic vẫn là nền tảng, là hạt nhân cốt lõi giúp cho mỗi 12 con người nhận thức và hoạt động hiệu quả, sáng tạo và thích ứng tốt với môi trường xã hội.
Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về trí tuệ, song có thể khái quát thành một số hướng cơ bản như sau: Quan niệm trí tuệ gắn với tư duy trừu tượng, năng lực nhận thức của con người. Tiêu biểu có các tác giả: A.A Menchinxcaia, Stern W, Bredy, Ceci, Rubinstein X. Côvaliôp (1971), Tâm lí học cá nhân [12], trong quá trình nghiên cứu năng lực con người, tác giả đi đến kết luận rằng, năng lực nhận thức là hệ thống thuộc tính trí tuệ của cá nhân bảo đảm cho cá nhân đó nắm tri thức và hoạt động khoa học được tương đối dễ dàng và có hiệu quả, năng lực này được gọi là trí thông minh. Ông đã nghiên cứu vấn đề năng lực đó trong quá trình dạy học, giáo dục và cho rằng có thể tạo nên những điều kiện tối ưu để nhanh chóng chuyển những năng lực từ mức độ phát triển này sang mức độ phát triển khác cao hơn.
Những điều kiện đó là gây cho học sinh hứng thú hoạt động sáng tạo; dạy cho chúng những phương thức cơ bản để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo; tạo cho học sinh thể hiện tính tích cực và độc lập cao để giải quyết các nhiệm vụ học tập và nhiệm vụ xã hội. Xem xét trí tuệ trong mối quan hệ với hoạt động học tập của học sinh, hay năng lực giải quyết vấn đề, Guthke (1974), Zur Diagnostik der Itellektuellen Lernfaehigkeit [89] cho rằng, là một bộ phận cấu thành chủ yếu nhất của năng lực học tập, trí thông minh là toàn bộ cấu trúc thức bậc của năng lực đặc trưng cho trình độ và chất lượng các quá trình tư duy (phân tích và tổng hợp) của một cá nhân. Như vậy, ở hướng tiếp cận này, người ta coi năng lực tư duy là cốt lõi của trí tuệ để nhận thức và giải quyết các nhiệm vụ mới. Trí tuệ là một dạng năng lực hợp thành năng lực học tập, phản ánh trình độ tư duy của cá nhân.
Nói một cách khác, trí tuệ là năng lực tư duy phát triển ở mức cao được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ với các năng lực nhận thức, học tập và giải 13 quyết những vấn đề mới của con người. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu như Wechsler, Piaget. lại quan niệm trí tuệ như là năng lực thích ứng của cá nhân với môi trường. Với cách tiếp cận này, các quan niệm này về trí tuệ đã phát triển một bước so với quan niệm trí tuệ có hạt nhân cốt lõi là năng lực tư duy với việc thống nhất rằng, phải xem xét trí tuệ trong sự tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường xung quanh.
J (1972), Science of Education and the Psychology of the Child (Khoa học giáo dục và tâm lý của trẻ em) [99] bất cứ trí tuệ nào cũng đều là một sự thích ứng. Sự thích ứng ở đây bao gồm hai mặt đối lập nhưng luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau: sự đồng hoá và sự điều ứng. Ông khẳng định sự thích ứng, nghĩa là sự tương tác giữa ảnh hưởng của cá thể lên môi trường và ảnh hưởng của môi trường lên cá thể. Nhấn mạnh vai trò của trí tuệ đối với con người trong việc thích ứng với môi trường, Stemberg.
R (1999), Handbook of Creative (Sổ tay sáng tạo) [104] cho rằng, trí tuệ là sự thích ứng có mục đích với môi trường, có ý nghĩa quan trọng với đời sống của cá nhân cũng như tạo ra và liên kết có chọn lọc của môi trường ấy. Trí tuệ là năng lực khởi động tư duy về những yêu cầu mới hay là năng lực thích ứng tinh thần với các nhiệm vụ mới và điều kiện sống mới để có thể vượt qua những khó khăn trong hoàn cảnh mới. Ở một hướng tiếp cận khác, người ta quan niệm trí tuệ như là năng lực tổng hợp. Đây là một bước tiến lớn trong quan niệm về trí tuệ, bởi lẽ, trí tuệ được quan niệm không chỉ được hiểu ở năng lực tư duy hay xem xét trong mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường mà được hiểu như năng lực chung để nhận thức và giải quyết tốt với các tình huống trong cuộc sống.
E (1985), Development of Intellectual Capability (Phát triển năng lực trí tuệ) [91], cho rằng, năng lực trí tuệ là phức hợp những năng lực 14 giúp cho mỗi cá nhân có khả năng làm việc và đạt những mục tiêu đề ra. Năng lực trí tuệ là năng lực của các cá nhân tham gia giải quyết vấn đề và những công việc hàng ngày bằng hành vi có định hướng mục tiêu. Nhấn mạnh vai trò của trí tuệ trong nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, N.X Laytex (1980), Năng lực trí tuệ và lứa tuổi [39], tác giả đã chỉ ra những năng lực trí tuệ nói chung, trong đó có các phẩm chất trí tuệ, biểu thị khả năng nhận thức lý luận và hoạt động thực hành của con người. Vai trò của trí tuệ tiếp tục được Froehlich W.D (1993), Woeterbuch zur Psychologie [84] khẳng định khi ông cho rằng trí tuệ năng lực chung, tạo ra và sử dụng những tri thức nhờ hiểu biết và tư duy trong các mối quan hệ cho phép phản ánh những mối liên hệ, quan hệ của sự vật và hiện tượng trong thế giới xung quanh và cho phép cải tạo thế giới một cách sáng tạo.
F (1992), Psychologische Diagnostik [90] cho rằng, trí tuệ là khái niệm bao trùm chỉ toàn bộ các năng lực trí óc chung được cấu thành theo thứ bậc (các yếu tố, các mặt) quy định trình độ và chất lượng của các quá trình tư duy của một cá nhân mà nhờ đó, quy định các đặc điểm chủ yếu đối với hành động của một tình huống có vấn đề có thể nhận thức trong quan hệ của chúng và tình huống được thay đổi phù hợp với các mục đích nhất định tương ứng với sự nhìn nhận đó. Thực tế Wechsler (1939), nghĩa trí tuệ như là năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của mình [110]. Như vậy, ở đây ông đã tiếp cận trí tuệ như một dạng năng lực tổng hợp đó là năng lực hành động thực tiễn, năng lực tư duy trừu tượng và năng lực thích ứng với môi trường. Quan điểm này có sự phát triển so với các quan điểm trước đây chỉ đồng nhất trí tuệ với trí thông minh, là khả năng tư duy trừu tượng của cá nhân được đo bằng các trắc nghiệm IQ.
Tóm lại, có thể thấy rằng quan niệm về trí tuệ khá phong phú, với 15 nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có cách tiếp cận trí tuệ như là sự phát triển của tư duy ở mức độ cao; trí tuệ như là năng lực thích ứng của cá nhân; trí tuệ như là năng lực tổng hợp của cá nhân. Các cách tiếp cận đã có những sự phủ định đồng thời cũng kế thừa lẫn nhau, cung cấp những cách hiểu khác nhau về trí tuệ tạo nên sự phong phú trong quan niệm về vấn đề này. Hướng nghiên cứu trí tuệ như là một năng lực chung, năng lực tổng hợp của cá nhân của Wechsler được nhiều nhà khoa học đồng tình và kế thừa, là cơ sở để thiết kế, xây dựng bộ công cụ đánh giá mức độ trí tuệ.
Khi nghiên cứu vấn đề này, có thể thấy rằng, quan niệm của ông là đúng đắn và đầy đủ hơn cả. Từ đó có thể kế thừa khi tiếp cận nghiên cứu các vấn đề lý luận về trí tuệ, đặc biệt là quan niệm coi trí tuệ là tổng thể các năng lực của cá nhân. Các nghiên cứu về cấu trúc trí tuệ Mô hình cấu trúc trí tuệ 2 nhân tố Quan niệm về cấu trúc trí tuệ 2 thành phần, tiêu biểu có các tác giả: Spearman, Jensenm, Horn J. và Cattell R…Đây là một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về cấu trúc trí tuệ.
Theo đó, trí tuệ con người không phải là một khối duy nhất, mà là một cấu trúc có các thành phần khác nhau, theo thứ bậc. Tiếp cận theo hướng xử lý thông tin, Horn J. (1967) cho rằng trí tuệ được cấu thành bởi 2 yếu tố trí tuệ lỏng và trí tuệ kết tinh. Trong khi đó, tác giả N.