CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Phôi thai học và giải phẫu học ruột thừa 1.1 Phôi thai học ruột thừa Khi phôi thai được 8 ngày thì lá nội bì thành một lớp liên tục gồm các tế bào biểu mô dẹt nằm ngay dưới ngoại bì. Từ đây các tế bào nội bì dần dần phát triển lan ra thành túi noãn hoàng nguyên phát. Đến ngày thứ 15 nội bì đã tạo xong một lớp lót trong của túi noãn hoàng vĩnh viễn và lớp này được gọi là nội bì noãn hoàng. Trong tuần thứ ba và thứ tư, sự khép phôi đã biến phôi ba lá dạng dĩa thành dạng ống.
Kết quả là cơ thể có dạng ống với ba lớp: lớp ngoài cùng bao mặt ngoài của phôi là ngoại bì, lớp giữa là trung bì và lớp trong cùng do nội bì tạo nên được gọi là ống ruột. Ống ruột có 3 đoạn gồm: ruột trước, ruột giữa và ruột sau [6], [7]. Ruột thừa có nguồn gốc từ sự phát triển của ruột giữa. Ruột giữa thời kỳ đầu thông với túi noãn hoàng, trong quá trình phát triển tiếp theo ruột giữa kéo dài nhanh dẫn đến hình thành quai ruột nguyên thủy.
Đầu của quai ruột mở thông với túi noãn hoàng nhờ ống noãn hoàng hay ống rốn mạc treo tràng. Nhánh đầu của quai ruột phát triển thành đoạn xa của tá tràng, hỗng tràng và một phần hồi tràng. Nhánh đuôi tạo đoạn dưới của hồi tràng, manh tràng, ruột thừa, đại tràng lên và hai phần ba gần của đại tràng ngang. Cùng với sự phát triển dài ra, quai ruột nguyên thủy thực hiện một chuyển động xoay quanh theo trục động mạch mạc treo tràng trên.
Nếu nhìn từ phía bụng có thể thấy quai ruột thực hiện xoay 270 o ngược kim đồng hồ. Quai ruột xoay 2 lần: lần thứ nhất, quai ruột xoay 90o ngược chiều kim đồng hồ theo trục trước sau (trục động mạch mạc treo tràng trên). Do đó cánh trên quai rốn di chuyển xuống sang phải, cánh dưới đi lên và sang trái. Lần xoay này kết thúc vào đầu tuần thứ tám.
Trong khi xoay ruột giữa vẫn biệt hóa, hỗng tràng, hồi tràng dài thêm và nụ manh tràng phình ra như con sâu được gọi là ruột thừa. Lần xoay thứ hai, quai ruột xoay thêm 180o ngược chiều kim đồng hồ. Chính sự xoay này làm cho khoang bụng to thêm ra. Qua hai lần xoay tổng cộng là 270o và kết quả là manh tràng ở hố chậu phải.
Vào tuần thứ 11 quai ruột trở về khoang bụng hoàn toàn. Khi quai ruột (quai rốn) không xoay thì đại tràng ở bên trái hay còn gọi là dị tật đại tràng bên trên, trong trường hợp này ruột thừa và 4 manh tràng ở bên hố chậu trái. Trường hợp quai rốn chưa xoay đủ 270o thì manh tràng và ruột thừa ở dưới gan, nếu quai rốn xoay vượt quá 270o thì manh tràng và ruột thừa ở vùng tiểu khung bên phải [7], [8].2 Giải phẫu ruột thừa 1.1 Hình thể ngoài ruột thừa Ruột thừa có dạng hình ống hay hình con giun dài từ 3-15 cm, trung bình dài từ 8-9 cm. Đường kính ruột thừa từ 5-6 mm, dung tích lòng ruột thừa từ 0,1-0,6 ml.
Khi bị viêm đường kính ruột thừa có thể từ 8-12 mm hoặc lớn hơn. Ruột thừa có 3 phần: gốc, thân và đầu, đầu thường lớn hơn thân và gốc. Khi ruột thừa viêm, đầu ruột thừa căng to, hình dạng giống như dùi trống [6]. Gốc ruột thừa dính vào đáy manh tràng, nơi hội tụ của 3 dải cơ dọc [7].
Mạc treo ruột thừa hình liềm, đi từ dưới gốc hồi manh tràng đến đầu ruột thừa. Trong mạc treo ruột thừa có động mạch ruột thừa, là nhánh của động mạch hồi manh đại tràng, động mạch đi sát bờ tự do của mạc treo [5], [11], [13].1: Hình thể ngoài của ruột thừa [15] 1.2 Cấu tạo của ruột thừa Cũng như cấu tạo của đại tràng, từ ngoài vào trong ruột thừa gồm có 5 lớp. Lớp thanh mạc là lớp ngoài cùng của ruột thừa, mỏng và trơn láng, thanh mạc của ruột thừa là do lớp thanh mạc của mạc treo ruột thừa xuất phát từ góc hồi manh tràng đến ruột thừa gồm có 2 lá bọc quanh toàn bộ ruột thừa và liên tiếp với thanh mạc của manh Thang Long University Library 5 tràng, phía trong thanh mạc dính vào tấm dưới thanh mạc của ruột thừa [18], [24].2: Cấu tạo của ruột thừa [15] Tấm dưới thanh mạc nằm giữa lớp thanh mạc ở ngoài và lớp cơ ở trong. Tấm dưới thanh mạc dính chặt vào lớp thanh mạc ở bên ngoài.
Khi ruột thừa bị viêm lớp thanh mạc của ruột thừa có thể dính vào mạc nối lớn vào các quai ruột non khi tách ruột thừa ra khỏi vị trí dính này đôi khi gặp khó khăn. Ngược lại, khi ruột thừa bị viêm tấm dưới thanh mạc lại không dính chặt vào lớp cơ nên có thể bóc tách lớp này ra khỏi lớp cơ [18]. Lớp cơ: có 2 lớp, cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong, các lớp thớ của cơ dọc và cơ vòng trải đều xung quanh ruột thừa [18]. Lớp dưới niêm mạc nằm giữa lớp cơ ở ngoài và lớp niêm mạc ở phía trong.
Nang bạch huyết chùm phát triển mạnh ở lớp này và đến cả lớp niêm mạc giống như nang bạch huyết chùm ở hồi tràng [2], [6]. Lớp niêm mạc cũng có rất nhiều nang bạch huyết chùm, nhiều hơn cả ở lớp niêm mạc của hồi tràng nên nhiều tác giả xem ruột thừa như một tuyến hạnh nhân [4], [5].3 Vị trí của manh tràng và ruột thừa Vị trí của ruột thừa luôn liên quan đến vị trí của manh tràng, manh tràng ở vị trí nào thì ruột thừa ở vị trí đó. Đa số các trường hợp manh tràng và ruột thừa ở vị trí hố chậu phải (vị trí bình thường), nhưng có thể ở vị trí bất thường: hố chậu trái, dưới gan, 6 trong tiểu khung. Vị trí của manh tràng và ruột thừa do sự xoay của quai ruột giữa thời kỳ phôi thai [15].
Vị trí bình thường: Ruột thừa nằm ở hố chậu phải, theo nghiên cứu của nhiều tác giả khoảng 70-80% số trường hợp bệnh nhân viêm ruột thừa cấp ở vị trí bình thường [11], [18]. Ở thời kỳ phôi thai khi quai ruột giữa xoay 270o thì ruột thừa ở vị trí này. Trong các trường hợp viêm ruột thừa cấp ở vị trí bình thường, thăm khám lâm sàng bệnh nhân đau khu trú và điển hình ở hố chậu phải. Điểm đau McBurney là giao điểm 1/3 ngoài, 2/3 trong đường nối gai chậu trước trên bên phải đến rốn sẽ đau rất rõ và thường chẩn đoán không khó khăn [5].
Vị trí ruột thừa ở tiểu khung: Do quai ruột giữa ở thời kỳ phôi thai xoay quá 270o nên manh tràng và ruột thừa nằm ở tiểu khung, khoảng 5-7% số bệnh nhân viêm ruột thừa cấp nằm ở vị trí này. Triệu chứng lâm sàng giống như viêm ruột thừa cấp ở vị trí bình thường, đồng thời do ruột thừa nằm thấp sát niệu quản và bàng quang nên đôi khi xuất hiện triệu chứng rối loạn đi tiểu [18], [19]. Vị trí ruột thừa ở dưới gan: Có khoảng 10 đến 15% số bệnh nhân viêm ruột thừa cấp nằm cao ở dưới gan. Ruột thừa và manh tràng nằm dưới gan là do thời kỳ phát triển phôi thai, quai ruột giữa xoay chưa đủ 270o.
Trong các trường hợp ruột thừa ở dưới gan, triệu chứng lâm sàng như triệu chứng của viêm túi mật cấp, đôi khi giống như loét dạ dày hoặc sỏi đường mật chưa có vàng da [19], [24]. Vị trí ruột thừa ở hố chậu trái: Do quai ruột giữa thời kỳ phôi thai không xoay, trường hợp này rất hiếm gặp [19].2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 1.1 Đặc điểm lâm sàng 1.1 Triệu chứng cơ năng [4], [12], [14], [19] Đau bụng: đây là triệu chứng đầu tiên và là lý do đi khám bệnh của bệnh nhân. Lúc khởi đầu, đau có thể bắt đầu ở tại ngay hố chậu phải hoặc tại một nơi khác (thường ở vùng quanh rốn hay vùng thượng vị) và sau một thời gian từ 1 – 12 giờ (trung bình 4 - 6 giờ) cơn đau sẽ khu trú ở hố chậu phải. Đau bụng thường khởi phát từ từ và đau âm ỉ, đôi khi khởi phát đột ngột và đau thành cơn, đau nhói.
Đau tăng khi họ hay thay đổi tư thế. Triệu chứng này có độ nhạy và độ đặc hiệu khoảng 80% Rối loạn Thang Long University Library 7 tiêu hóa: triệu chứng kinh điển là chán ăn và đau vùng quanh rốn, sau đó là buồn nôn và đau ở vùng hố chậu phải. Chán ăn: hầu như luôn đi kèm viêm ruột thừa. Nó hằng định đến mức khi bệnh nhân không có chán ăn thì cần xem lại chẩn đoán.
Buồn nôn, nôn: trong trường hợp bệnh nhân nôn thì triệu chứng nôn theo sau đau bụng, không nổi bật và kéo dài, hầu hết bệnh nhân chỉ nên 1-2 lần. Tiêu lòng và táo bón: tiêu lỏng gặp ở trẻ em nhiều hơn. Tiêu lỏng là triệu chứng của viêm ruột thừa thể nhiễm độc hay ruột thừa nằm cạnh gây kích thích đại tràng chậu hông. Tiểu khó hoặc tiểu gắt: ruột thừa nằm gần bàng quang hay niệu quản có thể gây các triệu chứng tiểu lắc nhắc, tiểu ra máu hay tiểu đục.2 Triệu chứng thực thể [14], [19] Nhìn: thành bụng di động theo nhịp thở trong trường hợp bệnh nhân đến sớm.
Bụng dưới di động kém khi bệnh nhân đến trễ và nhất là khi đã có biến chứng. Sờ: cầm khám nhẹ nhàng, khám từ vùng không đau tới vùng đau để phát hiện các dấu hiệu bất thường của thành bụng. Điểm Mcburney: là điểm nằm trên đường nối rốn và gai chậu trước trên bên phải và cách gai này khoảng 5cm hay là điểm chính giữa của đường này. Điểm McBurney Hình 1.5: Điểm Mc Burney [15] Điểm Lanz: là điểm nối 1/3 phải và 2/3 trái của đường nối hai gai chậu trước trên.
Điểm Clado: là điểm gặp nhau của bờ ngoài cơ thẳng bụng bên phải và đường nối hai gai chậu trước trên. 8 Điểm Clado Điểm Lanz Hình 1.6: Các điểm đau ruột thừa [15] Phản ứng thành bụng: khám nhẹ nhàng ở vùng hố chậu phải thấy cơ thành bụng vùng này căng hơn những vùng khác của ổ bụng. Càng ấn sâu xuống, cảm giác có cơ càng tăng, bệnh nhân đau phải nhăn mặt hay đẩy tay thầy thuốc ra. Phản ứng dội (hoặc dấu hiệu Blumberg): nắn nhẹ và sâu vào vùng hố chậu phải, thả tay đột ngột bệnh nhân sẽ cảm thấy đau tại chỗ.
Dấu Rossing: khi ta ấn sâu vào vùng hố chậu trái, bệnh nhân thấy đau ở hố chậu phải. Co cứng thành bụng: mức độ co cứng cơ càng mạnh khi tổn thương của ruột thừa càng nặng.