CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Vắc xin Vắc xin là chế phẩm sinh học với thành phần là các kháng nguyên có nguồn gốc từ các vi sinh vật gây bệnh đã được bào chế để làm giảm hoặc mất khả năng gây bệnh. Vắc xin được chủ động đưa vào trong cơ thể để kích thích cơ thể sinh miễn dịch chủ động phòng bệnh [4].
Phân loại vắc xin 1. Vắc xin giải độc tố Các loại vắc xin được sử dụng khi một độc tố của vi khuẩn là nguyên nhân chính của bệnh do vi sinh vật tiết ra độc tố, hoặc hóa chất độc hại. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng họ có thể làm bất hoạt độc tố bằng cách xử lý chúng với formalin, một dung dịch formaldehyde và nước khử trùng để biến độc tố của vi sinh vật được an toàn để sử dụng trong vắc xin như giải độc tố như Uốn ván, Bạch hầu. Vắc xin tinh chế Thay vì toàn bộ tế bào vi sinh vật, vắc xin tinh chế chỉ bao gồm các kháng nguyên mà tạo được miễn dịch tốt nhất.
Trong một số trường hợp, các vắc xin này sử dụng các quyết định kháng nguyên-phần đặc hiệu của kháng nguyên mà kháng thể hoặc tế bào T nhận ra và gắn vào. Vắc xin tinh chế có thể chứa ở bất cứ đâu từ 1-20 kháng nguyên hoặc nhiều kháng nguyên khác. Việc xác định kháng nguyên tốt nhất kích thích hệ thống miễn dịch là một quá trình tốn thời gian khó khăn. Phát triển vắc xin tinh chế bằng cách: Phát triển các loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm và sau đó sử dụng hóa chất để phá vỡ nó ra và thu thập các kháng nguyên quan trọng, 4 hoặc có thể sản xuất các phân tử kháng nguyên từ vi khuẩn sử dụng công nghệ DNA tái tổ hợp, như vắc xin Ho gà vô bào, Hib, phế cầu (PCV-7, PCV-10, PCV-13), viêm gan B.
Vắc xin bất hoạt Là vắc xin có nguồn gốc từ toàn bộ tế bào vi khuẩn, vi rút gây bệnh được xử lý bằng hóa chất, nhiệt độ làm vi sinh vật bị chết, hoàn toàn không còn khả năng gây bệnh. Vắc xin Ho gà toàn tế bào, bại liệt tiêm. Vắc xin sống giảm động lực Là dạng vi rút hoặc vi khuẩn gây bệnh đã được làm giảm độc lực hoặc suy yếu, sẽ nhân lên khi được đưa vào cơ thể và có đáp ứng miễn dịch gần giống như nhiễm trùng tự nhiên. Vắc xin này dễ bị hỏng hoặc giảm hiệu lực bởi những tác nhân lý hóa như nhiệt độ cao, ánh sáng, hóa chất hoặc kháng thể lưu hành trong máu.
Một số loại vắc xin sống giảm động lực có nguồn gốc từ vi rút như: Sởi, Rubella, Thủy đậu, Rotavirus, Bại liệt, có nguồn gốc từ vi khuẩn như vắc xin phòng lao (BCG). Thành phần của vắc xin Thành phần của vắc xin gồm: - Kháng nguyên: kích thích phát triển hệ miễn dịch cụ thể - Chất ổn định (stabilizer): đảm bảo đặc tính của của các kháng nguyên; thường là: sucroza, lactoza (đường sữa), albumin, mononatri glutamat (bột ngọt). - Chất bảo quản: có tác dụng khử trùng. Những chất bảo quản thông dụng gồm formaldehyd, phenol, phenoxyethanol và kháng sinh.
- Tá dược: tăng khả năng kích thích miễn dịch của kháng nguyên, thường là muối nhôm. Bất cứ thành phần nào trong vắc-xin cũng có thể gây ra các phản ứng sau khi tiêm chủng nếu cơ thể có dị ứng với chúng. Các báo cáo cho thấy một 5 số thành phần của vắc-xin như tá dược, chất bảo quản, protein kháng nguyên (ho gà toàn tế bào) đã được ghi nhận có thể gây phản ứng [36]. Tiêm chủng Tiêm chủng là việc sử dụng các hình thức khác nhau để đưa vắc xin, sinh phẩm y tế vào cơ thể con người với mục đích kích thích cơ thể tạo ra miễn dịch chủ động để phòng bệnh [2].
Tiêm chủng là hình thức gây miễn dịch chủ động nhờ vắc xin. Mũi tiêm chủng đầu tiên cho người chưa bao giờ tiếp xúc với kháng nguyên thường tạo ra kháng thể loại IgM. Tùy thuộc vào khả năng đáp ứng và thời gian tiêm, mũi thứ hai sẽ kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh hơn, cao hơn và thường là kháng thể loại IgG. Sau khi tiêm đủ các mũi cơ bản, miễn dịch sẽ duy trì ở mức độ cao trong thời gian dài và cho dù lượng kháng thể giảm xuống nhưng do cơ chế trí nhớ miễn dịch nên đa số trường hợp vẫn có khả năng kích thích cơ thể đáp ứng nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh.
Tiêm chủng đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa và kiểm soát được ít nhất 10 bệnh chính sau đây ở nhiều khu vực trên thế giới: đậu mùa, uốn ván, sốt vàng, các bệnh gây ra bởi Haemophilus influenza type B, bại liệt, sởi, quai bị và rubella [36]. Tác động của việc tiêm chủng đối với sức khỏe con người trên toàn thế giới là vô cùng to lớn mà chưa có một phương thức hay một kháng sinh nào có thể làm giảm tỷ lệ chết cho cộng đồng như vắc xin. Công tác tiêm chủng tại Việt Nam 1. Chương trình tiêm chủng mở rộng 1.
Lịch sự phát triển của Chương trình tiêm chủng mở rộng Chương trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Chương trình có mục tiêu ban đầu là cung cấp dịch vụ tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 1 tuổi, bảo 6 vệ trẻ khỏi mắc 6 loại bệnh truyền nhiễm phổ biến và gây tử vong cao. Sau một thời gian thí điểm, Chương trình từng bước được mở rộng dần cả về địa bàn và đối tượng tiêm chủng, để từ năm 1985 tới nay toàn bộ trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng của Chương trình trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận với Chương trình TCMR. Đến năm 2015, đã có 12 vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa vào Chương trình.
Các loại vắc xin sử dụng trong Chương trình tiêm chủng mở rộng Có 8 loại vắc xin sử dụng trong tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 5 tuổi hiện đang triển khai trên toàn quốc là [2]: 7 Bảng 1. Lịch tiêm chủng cho trẻ em trong chương trình TCMR tại Việt Nam Lịch tiêm Vắc xin Phòng bệnh (theo tháng tuổi) Sơ sinh BCG Lao (càng sớm càng Viêm gan B Viêm gan B tốt) OPV 1 Bại liệt 2 tháng tuổi Bạch hầu – ho gà – uốn ván – viêm gan Quinvaxem 1 B – viêm màng não mủ do Hib OPV 2 Bại liệt 3 tháng tuổi Bạch hầu – ho gà – uốn ván – viêm gan Quinvaxem 2 B – viêm màng não mủ do Hib OPV 3 Bại liệt 4 tháng tuổi Bạch hầu – ho gà – uốn ván – viêm gan Quinvaxem 3 B – viêm màng não mủ do Hib 9 tháng tuổi Sởi mũi 1 Sởi Sởi-Rubella Sởi và Rubella 18 tháng tuổi DPT4 Bạch hầu, ho gà, uốn ván Viêm não Nhật Bản mũi 1 Viêm não Nhật Bản mũi 2 (1 – 2 tuần 1 – 5 tuổi VNNB sau mũi 1) Viêm não Nhật Bản mũi 3 (một năm sau mũi 2) 1. Chương trình tiêm chủng dịch vụ Ngoài những vắc xin được liệt kê trong danh mục vắc xin tiêm chủng mở rộng, các bậc phụ huynh có thể cho trẻ thực hiện tiêm chủng dịch vụ để bảo vệ sức khỏe toàn diện. Các mũi vắc xin được tiêm bổ sung cho trẻ bao gồm: Vắc-xin phòng viêm phổi, viêm màng não mủ, viêm phế quản, viêm 8 họng.
Đây đều là những chứng bệnh do vi khuẩn Haemophilus Influenzae tuýp B (HiB) gây ra. Phác đồ tiêm gồm 3 mũi: mũi thứ nhất tiêm khi trẻ được 2 tháng; mũi thứ 2 tiêm khi trẻ 3 tháng tuổi và mũi thứ 3 tiêm khi trẻ 4 tháng. Để vắc-xin đạt hiệu quả tốt nhất thì nên tiêm nhắc lại sau 1 năm. Vắc-xin phòng Sởi - Quai bị - Rubella (MMR): Phác đồ tiêm gồm 2 mũi: mũi tiêm thứ nhất khi trẻ ở tháng thứ 12-15 hoặc muộn hơn để tránh tương tác với kháng thể từ mẹ truyền sang con.
Mũi thứ hai tiêm nhắc lại vào độ tuổi 4-6 tuổi hoặc sớm hơn. Vắc-xin phòng ngừa thủy đậu: Thủy đậu được chỉ định tiêm chủng cho người lớn và trẻ em từ 1 tuổi trở lên. Phác đồ tiêm gồm 2 liều: tiêm mũi thứ nhất khi trẻ được 12-15 tháng tuổi, mũi thứ hai sẽ tiêm nhắc lại sau 4-8 tuần tùy từng loại. Vắc-xin phòng ngừa viêm màng não do mô cầu nhóm B+C: Phác đồ tiêm gồm 2 liều: Tiêm 1 mũi và tiêm nhắc lại 1 lần theo chỉ định khi có dịch bùng phát.
Vắc-xin phòng cúm: Trẻ em từ 6-35 tháng tuổi tiêm 1 liều 0,25ml mỗi năm. Trẻ trên 36 tháng và người lớn sẽ tiêm 1 liều 0,5ml mỗi năm. Trẻ <8 tuổi chưa mắc cúm hoặc chưa tiêm chủng cúm phải tiêm liều 2 sau 4 tuần. Vắc-xin phòng cúm rất quan trọng nên đều cần tiêm nhắc lại hàng năm.
Vắc-xin phòng viêm gan A: Tiêm mũi 1 khi trẻ trên 1 tuổi, mũi 2 sau mũi 1 từ 6-12 tháng. Vắc-xin phòng thương hàn: Chỉ định tiêm chủng cho trẻ từ 3-10 tuổi, tiêm 1 liều duy nhất và nhắc lại sau mỗi 3 năm. 9 Vắc-xin phòng tiêu chảy do Rotavirus: Được chỉ định tiêm cho trẻ từ 2- 6 tháng tuổi. Phản ứng sau tiêm chủng 1.
Khái niệm về phản ứng sau tiêm chủng Phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [2]. Nguyên nhân phản ứng sau tiêm chủng Phản ứng do thuộc tính của vắc xin: Tác dụng phòng vệ của vắc xin là do chúng kích thích hệ thống miễn dịch của người dùng, tổng hợp các kháng thể, đẩy mạnh sự phá hủy vi sinh vật nhiễm hoặc trung hòa độc tố của vi khuẩn. Phản ứng tại chỗ, các triệu chứng toàn thân, sốt có thể là một phần của phản ứng miễn dịch cơ thể. Tuy nhiên, một số thành phần của vắc xin như tá dược, chất bảo quản, protein kháng nguyên (ho gà toàn tế bào) cũng có thể gây phản ứng.Một số tác động trực tiếp gây ra bởi vắc xin như: phản ứng tại chỗ và sốt trong vòng 48 giờ sau khi tiêm DPT/IPV/Hib; phát ban kèm theo sốt từ 7 đến 10 ngày và viêm tuyến mang tai 3 tuần sau khi tiêm MMR [36].