ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 2007 trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, chiếm 6-8% dân số ở người lớn và hơn 10% ở trẻ em dưới 15 tuổi, ước tính đến năm 2025 con số này tăng lên đến 400 triệu người [12], [20], [21]. Không phải ngẫu nhiên mà cứ vào tuần đầu tiên của tháng 5 hằng năm là Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lại nhắc nhở chúng ta hãy nâng cao ý thức phòng tránh hen bởi ngay một nước được tiếng hiện đại như Mỹ mà trong số hơn 300 triệu dân cũng đang có khoảng 22 triệu người mắc và mỗi năm, hen gây ra khoảng 5.000 ca tử vong cùng 2 triệu lần cấp cứu, 500.000 trường hợp nhập viện. Hen ảnh hưởng đến con cái nhiều hơn bất kỳ bệnh mãn tính nào khác và đang gia tăng về số lượng mỗi năm [39]. Hen là một trong những lý do nhập viện thường gặp nhất ở trẻ em [50].
Ở Hidalgo County tỷ lệ nhập viện bệnh hen ở trẻ em (< 18 tuổi) là cao nhất bang Texas (năm 2009 là 26,2%) [36]. Hen có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và dân số đặc biệt là trẻ em. Ở Việt Nam theo điều tra của Hội Hen, dị ứng miễn dịch lâm sàng, trung bình có 5% dân số bị hen, trong đó có 11% trẻ dưới 15 tuổi và số người tử vong hàng năm không dưới 3000 người. Nhiều người còn giấu bệnh nên dễ bị bỏ sót trong điều tra dịch tễ học cũng như chẩn đoán bệnh [9].
Và hậu quả là 25% người bệnh hen phế quản cần nhập viện, 42% người bệnh phải nghỉ học và 29% người bệnh phải nghỉ làm [22]. Hen phế quản nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến tắc nghẽn đường thở người bệnh phải nhập viện, cấp cứu và gia tăng tỷ lệ tử vong [7]. Hen phế quản đặt ra một gánh nặng chính đối với trẻ em về các vấn đề sức khoẻ thể chất, lo âu, trầm cảm và chi phí dùng thuốc [10]. nghỉ học và chất lượng cuộc sống kém [52].
Và cơn hen kịch phát có thể gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ [7]. Việc quản lý hen phế quản chưa thực sự hiệu quả, trẻ thường đến cơ sở y tế vì cơn hen phế quản cấp [3]. Hơn 50% số trẻ vào cấp cứu vì cơn hen phế quản cấp ở độ tuổi trước tuổi đi học [30]. Hen phế quản là bệnh mạn tính điều trị không hết.
Vì vậy, quản lý điều trị và chăm sóc cho bệnh nhi tại nhà là rất quan trọng. Điều này chủ yếu do người trực tiếp chăm sóc trẻ và kiến thức của người trực tiếp chăm sóc sẽ hỗ trợ tốt trong việc chăm sóc bệnh nhi. Thực tế hiện nay là số lượng lớn bệnh nhi hen phế 2 quản phải nhập viện, do sự hiểu biết của người trực tiếp chăm sóc trẻ về bệnh hen phế quản còn chưa đúng và chưa đầy đủ. Do đó, việc cung cấp kiến thức cho người trực tiếp chăm sóc trẻ bị hen và cách dự phòng hen phế quản là rất quan trọng.
Theo thống kê tại phòng Kế Hoạch Tổng hợp Bệnh viện Nhi đồng 1 số bệnh nhân hen nhập viện tại khoa Nội Hô Hấp ngày càng tăng: năm 2014 là 3914 ca, năm 2015 là 4405 ca và từ tháng 1 /2016 đến tháng 11/2016 là 4403 ca. Cho nên tác giả muốn tìm hiểu kiến thức quản lý hen và thực hành phun thuốc của bà mẹ và đồng thời phân tích một số yếu tố ảnh hưởng. Qua kết quả nghiên cứu này xác định được kiến thức bà mẹ, các yếu tố ảnh hưởng từ đó có chương trình giáo dục sức khoẻ phù hợp. Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài:“Đánh giá kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017. 4 CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cƣơng về hen 1. Định nghĩa hen Hen là một rối loạn viêm mạn tính của đường thở trong đó có nhiều tế bào và thành phần tế bào chịu trách nhiệm, đặc biệt là tương bào, bạch cầu ái toan, lympho bào T, đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính và tế bào biểu mô. Ở những cơ thể nhạy cảm, tình trạng viêm gây ra các đợt tái đi tái lại khò khè, ho, khó thở, nặng ngực, đặc biệt về đêm hoặc sáng sớm. Những đợt bệnh này thường liên quan với sự tắc nghẽn lan tỏa luồng khí nhưng thay đổi và thường có thể phục hồi tự nhiên hoặc với điều trị.
Tình trạng viêm cũng dẫn đến sự tăng đáp ứng đường thở với những mức độ kích thích khác nhau. Sự tương tác giữa các đặc điểm tắc nghẽn luồng khí, tăng đáp ứng đường thở và hiện tượng viêm quyết định biểu hiện lâm sàng, độ nặng và sự đáp ứng với điều trị hen. Khả năng phục hồi sự giới hạn luồng khí có thể không hoàn toàn ở một số bệnh nhân hen [26], [44], [46]. Trước đây, tình trạng viêm mạn tính được xem là sinh bệnh học trung tâm của hen.
Tuy nhiên gần đây, trong định nghĩa về hen của JGCA và y văn, hen trẻ em đặc trưng bởi tình trạng viêm đường thở mạn tính và hiện tượng tái cấu trúc đường thở [37], [48]. Trước tình trạng đa dạng và phức tạp về định nghĩa hen, Hội đồng thuận quốc tế về hen trẻ em ICON 2012 đã đưa ra định nghĩa “Hen là một rối loạn mạn tính do sự tắc nghẽn luồng khí và tăng đáp ứng đường thở với những mức độ khác nhau. Nó biểu hiện bằng các đợt tái đi tái lại triệu chứng khò khè, ho, khó thở và đau ngực” [46]. Cơ chế bệnh sinh cơn HPQ cấp Viêm đường thở mạn tính là yếu tố chính trong cơ chế bệnh sinh HQP.
Làm tăng tính đáp ứng của đường thở, gây co thắt, phù nề, xuất tiết, dẫn đến tắc nghẽn, hạn chế khí lưu thông và làm xuất hiện triệu chứng hen phế quản. nhiều tế bào và hoá chất trung gian gây viêm tham gia như các tế bào viêm, các tế bào cấu trúc đường thở, chúng tiết ra các cytokine, leukotriene, chemokine, histamin,NO…gây nên các biến đổi sinh lý và giải phẩu đặc trưng của bệnh. Cơn HPQ cấp bao gồm pha co thắt phế quản sớm, người bệnh thường đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản trong pha này và 5 pha viêm muộn, do đáp ứng miễn dịch không thích hợp. Những đợt hẹp đường thở cấp tínhđược bắt đầu với sự kết hợp của các hiện tượng phù nề, thâm nhiễm của các tế bào viêm, tăng tiết nhầy, co thắt cơ trơn và bong tróc của tế bào biểu mô.
Những thay đổi này phần lớn có thể đảo ngược được. Tuy nhiên khi bệnh càng tăng thì mức độ hẹp đường thở càng tiến triển và có thể trở nên hằng định [56] 1. Yếu tố nguy cơ gây hen phế quản 1. Yếu tố nguy cơ gây mắc hen phế quản Chủ thể - Gen - Béo phì.
Trẻ trai có nguy cơ mắc HPQ cao hơn, gần gấp đôi so bé gái. - Gắng sức, hoạt động thể lực mạnh [2],[40]. - Bệnh lý: Viêm xoang tăng sản mạn tính thường thấy có mối liên quan với bệnh HPQ. Qua theo dõi ghi nhận được mối tương quan đáng kể giữa triệu chứng HQP về đêm với bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản [55] Nhửng trẻ có tiền sử bệnh loạn sản phế quản – phổi hay những tổn thương phổi cấp tính khác (hít khói thuốc, uống hydrocarbon, suýt chết đuối) có nguy cơ cao đáp ứng đường thở quá mức hay HQP [31] Sinh non và cân nặng lúc sinh thấp là những tố nguy cơ gây khò khè tái diễn ở trẻ dưới 2 tuổi [55].
Theo ICON những trẻ nhũ nhi có khò khè tái diễn thì có nguy cơ phát triển thành HQP dai dẳng cao hơn so với khi chúng đến tuổi vị thành niên và những trẻ có cơ địa dị ứng nói riêng thì có khả năng tiếp tục khò khè hơn [56] 6 Môi trƣờng, kinh tế- tâm lý xã hội Môi trƣờng Kinh tế, tâm lý -xã hội - Dị nguyên - Nghèo đói - Nhiễm khuẩn hô hấp - Đông đúc - Chất gây mẫn cảm từ nghề - Mẹ <20 tuổi nghiệp - Trình độ văn hoá < cấp trung - Khói thuốc học phổ thông - Ô nhiễm không khí trong/ - Dịch vụ y tế thiếu thốn ngoài nhà - Bố mẹ hoặc trẻ có bệnh - Chế độ ăn - Có vấn đề gia đình - Thay đổi thời tiết - Lạm dụng rượu hoặc các - Thuốc ( Aspirin, chẹn beta) chất[. Yếu tố khởi phát cơn hen phế quản cấp Các yếu tố thường gặp gây khởi phát cơn HQP cấp: - Chất kích ứng ( khói thuốc, khí) - Nhiễm virus - Thay đổi thời tiết - Dị nguyên (bụi, động vật ) - Hoạt động thể lực - Không khí lạnh - Sang chấn tâm lý [33]. Yếu tố nguy cơ tử vong cao do hen phế quản - Có tiền sử CHPQC nguy kịch, phải đặt nội khí quản và thông khí cơ học - Trong năm qua từng nhập viện hoặc vào cấp cứu vì CHPQC - Đang sử dụng hoặc mới ngưng sử dụng corticoids uống - Hiện đang không sử dụng corticoids hít 7 - Phụ thuộc quá mức đồng vận B2 tác dụng nhanh, đặc biệt những NB sữ dụng hơn 1 bình salbutamol ( hoặc tương đương )/tháng - Có tiền sử bệnh tâm thần hoặc có vấn đề tâm lý xã hội, bao gồm cả sử dụng thuốc an thần - Tiền sử không tuân thủ thuốc dự phòng HPQ - Nguy cơ tử vong cũng cao ở những trẻ có tiền sử suy hô hấp hay co giật do thiếu oxy, điều trị kém tại nhà hay sau khi di khám) hoặc trì hoãn tìm kiếm sự chăm sóc y tế [33]. Chẩn đoán hen phế quản Cần nghĩ đến HPQ nếu trẻ có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào sau : + thường bị các đợt khò khè.
Hơn 1 đợt trong 1 tháng + Ho hoặc khò khè do gắng sức + Ho đặc biệt về đêm ở thời điểm không có nhiễm khuẩn hô hấp do virus + Khò khè không thay đổi theo mùa + triệu chứng kéo dài sau 3 tuổi + Triệu chứng xuất hiện hoặc xấu hơn khi có: Các dị nguyên hít (mạc bụi nhà, súc vật nuôi, gián, nấm).