Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA 1. Khái niệm điều dưỡng Điều dưỡng Theo WHO: Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống. Nó bao gồm thúc đẩy sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và cả tử vong [44].
Theo Hội đồng điều dưỡng quốc tế: Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống. Điều dưỡng bao gồm thúc đẩy sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và cả tử vong. Vận động thúc đẩy một môi trường an toàn, nghiên cứu, tham gia hoạch định chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế và giáo dục cũng là vai trò của điều dưỡng [41]. Theo Hiệp hội Điều dưỡng Mỹ: Điều dưỡng là sự bảo vệ, thúc đẩy và tối ưu hóa sức khỏe và khả năng, phòng ngừa bệnh tật và thương tích, giảm đau thông qua chẩn đoán và điều trị các đáp ứng của con người, vận động sự chăm sóc từ các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội [30].
Chức năng của Điều dưỡng - Chức năng phụ thuộc: là thực hiện y lệnh của bác sĩ. - Chức năng phối hợp: là phối hợp ngang hàng với bác sĩ trong việc chữa trị bệnh cho người bệnh. - Chức năng độc lập: là chủ động chăm sóc người bệnh theo nhiệm vụ đã qui định. 4 Nhiệm vụ của điều dưỡng Điều dưỡng viên có nhiệm vụ chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD), bắt đầu từ khi nhập viện, trong khi nằm viện và tới lúc xuất viện.
Họ có nhiệm vụ phải nhận định tình trạng người bệnh (NB), đánh giá về sự đáp ứng của họ đối với bệnh tật để từ đó đưa ra chẩn đoán ĐD và vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các tiêu chuẩn ĐD để lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc, đánh giá toàn trạng và ghi chép diễn biến trường hợp bệnh nặng và cấp cứu để điều chỉnh kịp thời. Bên cạnh đó ĐD còn có nhiệm vụ phải phối hợp với bác sĩ trong thực hiện kế hoạch CSNBTD như thực hiện, theo dõi giám sát ĐD cấp dưới trong thực hiện y lệnh, tư vấn, giáo dục sức khoẻ và đào tạo cho học sinh, sinh viên, học viên, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, ĐD còn có nhiệm vụ quản lý tài sản, vật tư, trang thiết bị, môi trường làm việc, phát triển nghề nghiệp và phải hành nghề theo y đức và pháp luật [5], [8]. An toàn người bệnh Theo WHO, ATNB là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc [33].
Theo Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ): ATNB là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy. ATNB còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố [44]. Một số khái niệm về sai sót, sự cố - Sai sót (error): Thất bại của hành động theo kế hoạch hoặc sử dụng kế hoạch không đúng để đạt một mục tiêu mong muốn [33]. - Sai sót hiện hữu (active error): Sai sót xảy ra trong quá trình trực tiếp chăm sóc người bệnh [33].
Thư viện ĐH Thăng Long 5 - Sai sót tiềm ẩn (latent error): Liên quan đến các yếu tố của môi trường chăm sóc tạo điều kiện thuận lợi cho sai sót chủ động dễ xảy ra [33]. Sự cố y khoa Sự cố y khoa (Adverse Event) là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh [9], [43]. THỰC TRẠNG AN TOÀN NGƯỜI BỆNH 1. Thực trạng an toàn người bệnh trên thế giới An toàn người bệnh là nền tảng của chất lượng trong chăm sóc sức khoẻ và thành công của nhân viên y tế.
Vấn đề này cần đòi hỏi sự cam kết mọi người trong xã hội nói chung và bệnh viện nói riêng. Thường có nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp lại tạo nên sự mất an toàn cho người bệnh. Sự cố y khoa tại Mỹ và các nước phát triển Số NB Số sự Tỷ lệ Nghiên cứu Năm NC cố (%) Mỹ (Harvard Medical Practice Study ) 1989 30 195 1133 3,8 Mỹ (Utah-Colorado Study) 1992 14 565 475 3,2 Mỹ (Utah-Colorado Study)* 1992 14 565 787 5,4 Úc (Quaility in Australia Health Case Study) 1992 14 179 2353 16,6 Úc (Quaility in Australia Health Case Study)** 1992 14 179 1499 10,6 Anh 2000 1014 119 11,7 Đan Mạch 1998 1097 176 9,0 Ghi chú: * Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Mỹ ** Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Úc. Nguồn: WHO (2011), Patient Safety curriculum guide.
Multi-professional Edition [52] 6 Khi đối chiếu giữa các loại biến cố xảy ra tại các bệnh viện ở Hoa Kỳ và Úc trong năm 1992 cho thấy số ca sai sót của Mỹ thì nhiều hơn so với Úc nhưng tỷ lệ phần trăm những biến cố liên quan đến điều trị như phẫu thuật nhầm vị trí, bỏ quên gạc… thì ở Úc cao hơn rất nhiều so với Mỹ. Sự cố liên quan đến thuốc, trang thiết bị: Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng, phản ứng thuốc không mong muốn (shock phản vệ do dùng thuốc) là loại sự cố xảy ra thường xuyên trong suốt 30 năm qua. Tuy nhiên có 6,5/100 ca nhập viện ở bệnh viện lớn ở Hoa Kỳ gặp sự cố liên quan đến dùng thuốc và phần lớn sai sót xuất hiện ở khâu phát thuốc hoặc tiêm/truyền cho người bệnh. Điều này lần nữa được nhắc tới trong báo cáo của Hoa Kỳ khi trung bình 16 triệu liều thuốc/ngày được người dân nước này tiêu thụ cho việc chữa bệnh.
Tuy nhiên 2% tương đương 320.000 nhầm lẫn do dùng thuốc mỗi ngày. Ngoài ra, khoảng 50% trang thiết bị ở bệnh viện các nước đang phát triển không còn sử dụng hoặc chỉ sử dụng được một phần [37]. Sự cố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện: Trong báo cáo WHO đã chỉ ra sự cố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm 5% – 15% ngƣời bệnh nội trú và 9 – 37% người bệnh khoa tích cực. Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở Mỹ chiếm 4,5% và năm 2002 theo ước tính Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ có 1,7 triệu người bệnh bị sự cố liên quan nhiễm khuẩn bệnh viện, 24,6% ở khoa hồi sức tích cực [33].
Sự cố liên quan đến phẫu thuật: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ xuất hiện nhiễm khuẩn vết mổ ở nước đang phát triển cao hơn so với nước phát triển, tỷ lệ này dao động từ 19% - 31% tuỳ từng bệnh viện và từng quốc gia [33]. Có 0,4% - 0,8% người bệnh tử vong trực tiếp liên quan đến phẫu thuật, 3% - 16% do biến chứng do phẫu thuật [32]. Theo viện nghiên cứu Y học Mỹ và Úc gần 50% các sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến người bệnh có phẫu thuật. Trong nghiên cứu tại bang Minnesota Mỹ tác giả đã chỉ ra những loại sai sót thường gặp trong phẫu thuật bao gồm: Thư viện ĐH Thăng Long 7 Bảng 1.
Các loại sự cố trong phẫu thuật ở bang Minnesota Mỹ Loại sự cố Số lượng Tỷ lệ % Để sót gạc 31 37,0 Phẫu thuật nhầm bộ phận trên cơ thể 27 32,0 Chỉ định phẫu thuật sai 26 31,0 Trước thực trạng sai sót y tế trong bệnh viện, năm 2003 nhiều nước bắt đầu khởi động thực hiện ATNB và yêu cầu WHO hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Đến năm 2004, WHO đã đề sướng chương trình ATNB toàn cầu. Từ đó đến 2009, WHO đã triển khai được 10 chương trình và có dự án riêng về ATNB.000 nhân viên y tế từ 122 quốc gia đăng ký tham gia chương trình chăm sóc an toàn bằng cách rửa tay đúng cách. Trong phẫu thuật, sau khi tiến hành đánh giá theo bảng kiểm an toàn phẫu thuật của WHO, tỷ lệ biến chứng lớn giảm tới 36%, tỷ lệ tử vong nội trú giảm gần 50% [50].
Ngoài ra theo các nhà nghiên cứu y khoa, 70% các sự cố y khoa không mong muốn có nguồn gốc sai sót từ hệ thống và chỉ có 30% là do cá nhân người hành nghề. Lãnh đạo không định kiến và cởi mở trao đổi về những sai sót/sự cố y khoa không mong muốn. Các hành vi liên quan tới văn hóa an toàn người bệnh bao gồm: - Chủ động báo cáo và trao đổi một cách cởi mở về các sai sót, sự cố y khoa. - Đánh giá cao những cán bộ y tế chủ động báo cáo khi sự cố xảy ra.
- Giúp đỡ tinh thần cho những cán bộ y tế có liên quan tới sự cố. - Trao đổi thông tin với người bệnh về kết quả điều trị, kể cả những việc xảy ra ngoài dự kiến. - Tạo điều kiện để người bệnh trở thành một thành viên tích cực trong nhóm chăm sóc. - Làm việc theo nhóm.
- Chủ động đánh giá rủi ro và ngăn ngừa sai sót [16]. Thực trạng an toàn người bệnh tại Việt Nam Sự cố y khoa không mong muốn trong các cơ sở khám chữa bệnh chưa được nghiên cứu hệ thống và báo cáo cụ thể. Tuy nhiên hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh ở Việt Nam đã và đang phải đương đầu với sự cố ở các mức độ, ảnh hưởng khác nhau, ảnh hưởng tới tính mạng và sức khoẻ của người bệnh. Trong báo cáo của Hội Điều dưỡng Việt Nam chỉ có 27,8% sai sót/sự cố sau khi xảy ra là được báo cáo [15].
Trong hội thảo về nhiễm khuẩn bệnh viện ở Việt Nam, tỷ lệ mất an toàn người bệnh có nguyên nhân từ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là khá cao. Nhiễm khuẩn bệnh viện tại một số bệnh viện Việt Nam Nhiễm khuẩn Nghiên cứu Năm bệnh viện (%) Phạm Đức Mục và cộng sự (11 BV TW) 2005 5,8 Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (6 BV phía Nam) 2005 5,6 Nguyễn Việt Hùng (36 BV phía Bắc) 2006 7,8 Trần Hữu Luyện. Giám sát nhiễm khuẩn vết mổ của 2008 4,3 1.000 NB có phẫu thuật tại BVTW Huế. Lê Thị Anh Thư.
Giám sát viêm phổi liên quan thở máy 2011 39,4 của 170 NB tại BV Chợ Rẫy.