Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI NIỆM BÀN GIAO NGƯỜI BỆNH Theo tổ chức kiểm định chất lượng quốc tế Joint Commission International (JCI) bàn giao là một quy trình thông tin cụ thể của NB từ người chăm sóc này sang người chăm sóc khác với mục đích đảm bảo tính liên tục và an toàn trong việc chăm sóc NB [1]. Trong đó, quy trình bàn giao NB quy định rõ những tình huống cần bàn giao và thống nhất thông tin cần bàn giao giữa các NVYT tham gia chăm sóc và điều trị NB [3]. Theo dự thảo Thông tư năm 2018 của Bộ Y tế về quy chế chuyên môn nhận diện người bệnh, vào viện, ra viện, chuyển khoa và bàn giao người bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì Bàn giao người bệnh là việc bảo đảm mọi thông tin quan trọng của người bệnh được bàn giao đầy đủ, hiệu quả và thống nhất giữa các nhân viên y tế tham gia chăm sóc và điều trị người bệnh.
Thông tin cần được bàn giao bao gồm: Thông tin nhận diện người bệnh; Hồ sơ bệnh án (Chẩn đoán; diễn biến bệnh và những can thiệp đã thực hiện cho người bệnh; tình trạng người bệnh hiện tại); Lý do bàn giao. Công tác bàn giao người bệnh là việc làm thường xuyên, không chỉ giữa các ca trực mà còn giữa các điều dưỡng trong cùng một nhóm làm việc hoặc giữa các khu vực khác trong bệnh viện để đảm bảo sự chăm sóc không bị gián đoạn [11]. Việc bàn giao có trách nhiệm của NVYT trong bệnh viện ngày càng được quan tâm nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh và giảm thiểu tỷ lệ sự cố y khoa [34]. QUY ĐỊNH VỀ BÀN GIAO NGƯỜI BỆNH Ở VIỆT NAM Theo điều số 7, Thông tư số 19/2013/TT-BYT về việc hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện quy định về việc triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và NVYT.
Thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn cho NB và NVYT với 10 nội dung cần phải tuân thủ: (i) Xác định chính xác người bệnh; (ii) An toàn phẫu thuật, thủ thuật; (iii) An toàn trong sử dụng thuốc; (iv) Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; (v) Phòng ngừa rủi ro, sai sót do trao đổi, truyền đạt thông tin sai lệch giữa NVYT; (vi) Phòng ngừa người bệnh bị ngã; (vii) An toàn trong sử dụng Thư viện ĐH Thăng Long 4 trang thiết bị y tế; (viii) Bảo đảm môi trường làm việc an toàn; (ix) Thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo sai sót chuyên môn, sự cố y khoa; (x) Xây dựng quy trình đánh giá sai sót chuyên môn, sự cố y khoa [9]. Theo Thông tư 31/2021/TT-BYT ngày 26/01/2011 về Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện của Bộ Y tế đã quy định cụ thể 12 nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của một ĐD (từ Điều 4 - Điều 15) [12]. NỘI DUNG BÀN GIAO THÔNG TIN NGƯỜI BỆNH 1. Định danh người bệnh Là việc xác định danh tính của người bệnh bao gồm các thông tin nhự: Họ tên đầy đủ, ngày tháng năm sinh và mã số nhập viện của người bệnh.
Định danh chính xác người bệnh khi bàn giao giữa các nhân viên y tế giúp quá trình theo dõi, chăm sóc, khám chữa bệnh và áp dụng đúng dịch vụ, quy trình điều trị đúng cho người bệnh. Định danh sai người bệnh sẽ là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong khi cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh. Thời điểm cần định danh người bệnh [5], [11]. (1) Thực hiện các kỹ thuật chuyên môn phục vụ khám và điều trị.
(2) Thực hiện các thủ thuật, kỹ thuật gây mê, an thần tĩnh mạch. (3) Thực hiện các can thiệp ngoại khoa. (4) Thực hiện các thủ thuật có xâm lấn. (5) Thực hiện thuốc hoặc bàn giao thuốc cho người.
(6) Thực hiện các chỉ định cận lâm sàng: xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh. (7) Thực hiện các chỉ định liên quan đến truyền máu và các chế phẩm máu. (8) Bàn giao người bệnh. (9) Tiếp đón; thanh toán, khám chữa bệnh, phục vụ ăn uống.
(10) Vận chuyển người bệnh. Khi bất kỳ thông tin nào của người bệnh không trùng khớp với thông tin trên giấy tờ, hồ sơ bệnh án, dịch vụ sẽ không được thực hiện cho đến khi có bằng chứng xác thực đúng thông tin của NB. Trong trường hợp thất lạc, bị mờ thông tin cần phải được NVYT thay mới. Chẩn đoán và tình trạng hiện tại của người bệnh Chẩn đoán bệnh của người bệnh là kết luận tên bệnh sau khi bác sĩ khám và thực hiện các thăm dò chức năng, các xét nghiệm cận lâm sàng.
Căn cứ vào chẩn đoán bệnh mà BS có phác đồ điều trị phù hợp [8]. Tình trạng hiện tại của NB là tình hình sức khoẻ của người bệnh ở tại thời điểm bàn giao giữa các NVYT với nhau bao gồm tình trạng tỉnh táo, kích động, lơ mơ hay hôn mê và các dấu hiệu sống của người bệnh như mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, độ bão hòa oxy, cân nặng, chiều cao của người bệnh [8]. Bệnh kèm theo Là bệnh mà người bệnh mắc phải ngoài bệnh lý mà họ đang được điều trị chính tại bệnh viện. Bệnh kèm theo có thể là nguyên nhân kết quả của bệnh chính đang điều trị, nó có thể ảnh hưởng một phần hoặc có thể không ảnh hưởng gì trên bệnh lý chính của NB [6], [5].
Các kết quả/chỉ số báo động (chỉ số bất thường) cận lâm sàng của người bệnh Kết quả/chỉ số cận lâm sàng báo động là những kết quả/chỉ số xét nghiệm của NB vượt quá giới hạn bình thường, có thể ảnh hưởng tới tính mạng của NB hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng nếu bác sĩ lâm sàng không có những can thiệp kịp thời. Khi bàn giao giữa các ca trực, khi chuyển khoa, chuyển viện thì cần được bàn giao một cách cụ thể [2]. Tiền sử dị ứng của người bệnh Dị ứng là hiện tượng cơ thể có những phản ứng bất thường với các chất lạ khi các chất này xâm nhập cơ thể con người. Các chất lạ khi vào máu sẽ kích thích cơ thể sinh ra kháng thể để chống lại kháng nguyên từ bên ngoài vào [10], [4].
Các chỉ định sử dụng thuốc của Bác sĩ Là những thuốc mà BS kê cho NB bằng đơn bao gồm tên thuốc, nồng độ, liều sử dụng, đường dùng, thời gian dùng và cách thức pha chế mà ĐD phải thực hiện đúng cho NB [7]. Các thuốc tiêm truyền đường tĩnh mạch được chuẩn bị tại phòng riêng đảm bảo vệ sinh, có trang thiết bị phù hợp và do các NVYT được đào tạo thành thạo thực hiện. Thư viện ĐH Thăng Long 6 Các thuốc sử dụng cho người bệnh cần được bàn giao cụ thể, chi tiết giữa các NVYT với nhau, giữa các ca trực làm việc hay khi NB chuyển khoa, chuyển viện, khi thực hiện các phẫu thuật/thủ thuật. CÁC PHƯƠNG PHÁP BÀN GIAO ĐIỀU DƯỠNG 1.1 Bàn giao bằng lời nói Bàn giao bằng lời nói còn được gọi là bàn giao truyền thống và có thể nói là phương pháp bàn giao lâu đời.
Nó liên quan đến việc trao đổi bằng lời nói về thông tin và được hỗ trợ bởi tài liệu điều dưỡng [39]. Tại Vương quốc Anh, một nghiên cứu được tiến hành về việc chuyển giao giữa nhân viên cấp cứu và khoa cấp cứu cho thấy, bàn giao bằng lời phương tiện truyền thông tin hiệu quả và đáng tin cậy nhất, đồng thời là chuyển giao bằng lời nói bù đắp cho việc chữ viết và đọc thiếu thông tin [38]. Tuy nhiên, việc bàn giao bằng lời nói đã bị chỉ trích là mang tính nghi thức, dài dòng, tập trung vào các mối quan tâm về y tế thay vì điều dưỡng không quan tâm đến quan điểm của bệnh nhân, tập trung vào những gì điều dưỡng đã thực hiện và không đúng kế hoạch chăm sóc bệnh nhân, cung cấp thông tin không chính xác và không đầy đủ chuyển giao, không tuân theo một mô hình có cấu trúc và gắn liền với sự lặp lại của thông tin có thể thu được từ các tài liệu điều dưỡng [29] [30]. Bàn giao tại giường Phương pháp tại giường là phương pháp bàn giao ưu tiên vì nó lấy người bệnh làm trung tâm, liên quan đến sự tham gia của gia đình và thúc đẩy sự an toàn của người bệnh phản ánh quyền của người bệnh được trở thành đối tác chăm sóc, dẫn đến kết quả cao hơn và sự hài lòng của người bệnh.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh thêm rằng sự tham gia của người bệnh trong việc chăm sóc ra quyết định làm tăng cảm giác kiểm soát của họ, cải thiện kết quả chức năng và lâm sàng và giảm tỷ lệ chuyển tuyến, thay đổi chẩn đoán và biến chứng bệnh. Bệnh nhân và gia đình có cơ hội để đặt câu hỏi và bày tỏ mối quan tâm của họ về công tác chăm sóc, bên cạnh đó ĐD cũng nhận được thông tin thích hợp từ bệnh nhân và gia đình để cải thiện việc chăm sóc và xây dựng mối quan hệ ĐD-bệnh nhân/gia đình tốt hơn [21]. Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp bàn giao này dài dòng một cách bất 7 hợp lý vì các NVYT thường xuyên bị gián đoạn, bao gồm cả những điều không cần thiết và thông tin không liên quan, kém hiệu quả hơn vì nó là sự kể lại sự việc thay vì diễn giải tình trạng của người bệnh [30]. Bàn giao bằng bản ghi âm Vị trí của phương pháp bàn giao này là văn phòng trực, nơi điều dưỡng có cơ hội ghi lại thông tin ngắn gọn và có liên quan vào máy ghi âm để ca sắp tới có thể nghe, vào thời điểm thuận tiện.
Máy ghi âm có thể được tạm dừng để giải quyết những gián đoạn có thể phát sinh trong quá trình bàn giao. Phương pháp ghi âm ít tốn thời gian hơn vì tối thiểu gián đoạn, nhưng nó cũng thiếu giao tiếp giữa điều dưỡng bàn giao và điều dưỡng nhận bàn giao, do đó không đáp ứng tính gắn kết hoặc chức năng cảm xúc. Bên cạnh đó, nó mang tính nghi lễ, hồi tưởng, thông tin định hướng điều trị thay vì tập trung vào hướng lập kế hoạch và nó không mang tính kiên nhẫn, tập trung và quan trọng là các câu hỏi được đưa ra bởi các điều dưỡng nhận có thể vẫn chưa được trả lời và người nhận dành nhiều thời gian hơn để xem xét tài liệu của bệnh nhân để xác nhận thông tin [30]. Một nhà nghiên cứu đã thực hiện một nghiên cứu so sánh về bàn giao bằng ghi âm và bàn giao bằng lời nói và nhận thấy rằng phương pháp ghi âm là dễ bị sai sót hơn [56].