ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đây được coi là một trong những thách thức và mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực Y khoa trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Nhiễm khuẩn bệnh viện luôn là nguy cơ tiềm ẩn cũng như hiện hữu với tất cả người bệnh ngay cả những nước phát triển và các nước đang phát triển. Tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện luôn rất cao ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [1]. Nhiễm khuẩn bệnh viện phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó những nguyên nhân phổ biến là: điều kiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị vật tư thuộc lĩnh vực kiểm soát nhiễm khuẩn và đặc biệt là sự tuân thủ các quy định về thực hiện phòng ngừa chuẩn của nhân viên y tế nói chung tại các bệnh viện.
Nhiễm khuẩn bệnh viện có thể ngăn ngừa, hạn chế được thông qua những chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn, điển hình là thực hiện tốt phòng ngừa chuẩn [2]. Phòng ngừa chuẩn là các kiểm soát nhiễm khuẩn cơ ản áp dụng cho mọi người bệnh bất kể chẩn đoán và thời điểm chăm sóc. Ph ng ngừa tiếp xúc với máu, dịch cơ thể, chất tiết, chất bài tiết, giảm thiểu lây truyền nhiễm trùng cho nhân viên y tế hoặc người bệnh khác. Để thực hiện tốt phòng ngừa chuẩn các cơ sở khám chữa bệnh cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: đảm bảo về cơ sở vật chất cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, bên cạnh đó việc đào tạo, sắp xếp, bố trí nhân lực thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn phù hợp, bồi dưỡng, cung cấp đầy đủ kiến thức, xác định thái độ đúng và thực hành nghiêm túc các quy định về phòng ngừa chuẩn của bộ Y tế cho mọi nhân viên y tế là điều rất cần thiết [3].
Tại các cơ sở khám chữa bệnh hiện nay, nhóm nhân viên y tế chiếm tỉ lệ đông nhất, thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người bệnh nhất và thực hiện nhiều kỹ thuật, thủ thuật chăm sóc người bệnh nhất chính là đội ngũ điều 2 dưỡng viên. Vì thế, việc thực hiện tốt phòng ngừa chuẩn của điều dưỡng viên sẽ góp phần quan trọng hạn chế nhiễm khuẩn bệnh viện, hạ thấp tỉ lệ nhiễm trùng bệnh viện, giảm tỉ lệ lây chéo trong điều trị, giảm tỉ lệ tử vong và tiết kiệm chi phí điều trị, chi phí chăm sóc và chi phí cơ hội chung của gia đình và xã hội [4]. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hòa Bình được công nhận đạt hạng I năm 2012. Tổng số lượt người đến khám bệnh trung ình hàng năm khoảng 170.000, số người bệnh điều trị nội trú hàng năm khoảng 35.
Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện được thành lập năm 2006, các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn đã được triển khai tại bệnh viện. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tình trạng bệnh viện luôn rất đông người bệnh đến khám và điều trị, ở một số thời điểm đã xuất hiện tình trạng quá tải bệnh viện, cùng với đó là cơ sở vật chất ở một số khoa lâm sàng hiện nay đã xuống cấp hiện chưa được khắc phục kịp thời. Thực trạng công tác thực hiện một số biện pháp phòng ngừa chuẩn ở bệnh viện như thế nào? Có những rào cản gì ảnh hưởng đến công tác này? Để có được những bằng chứng khách quan về thực trạng thực hiện một số biện pháp phòng ngừa chuẩn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và kiến thức, thái độ, thực hành của điều dƣỡng viên về phòng ngừa chuẩn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2021" với hai mục tiêu: 1.
Mô tả thực trạng phòng ngừa chuẩn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2021. Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng viên trong thực hiện một số biện pháp phòng ngừa chuẩn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Phòng ngừa chuẩn trong cơ sở khám, chữa bệnh 1.
Một số khái niệm * Nhiễm khuẩn bệnh viện Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “nhiễm khuẩn người bệnh mắc phải trong thời gian điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn đó không phải là lý do nhập viện và/hoặc nhiễm khuẩn xảy ra với người bệnh trong bệnh viện hoặc cơ sở y tế khác mà nhiễm khuẩn này không hiện diện hoặc không trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện” [1], [2], [5]. * Phòng ngừa chuẩn Là tập hợp các biện pháp phòng ngừa cơ ản áp dụng cho tất cả người bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phụ thuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng và thời điểm chăm sóc của người bệnh, dựa trên nguyên tắc coi tất cả máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây truyền bệnh. Thực hiện phòng ngừa chuẩn (PNC) giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm với máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) cho dù không nhìn thấy máu, chất tiết qua da không lành lặn và niêm mạc [1], [4], [5].
Phòng ngừa chuẩn bao gồm các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho tất cả những người bệnh trong bệnh viện không tùy thuộc vào chẩn đoán và tình trạng nhiễm trùng của người bệnh (NB). Phòng ngừa chuẩn bao gồm các nội dung sau: Vệ sinh tay; sử dụng phương tiện ph ng hộ cá nhân; vệ sinh hô hấp và vệ sinh khi ho; sắp xếp người ệnh; tiêm an toàn và ph ng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn; vệ sinh môi trường; xử lý dụng cụ; xử lý đồ vải; xử lý chất thải [2], [5]. 4 * Vệ sinh tay Vệ sinh tay (VST) là làm sạch tay ằng nước với xà ph ng có hay không có chất sát khuẩn và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn. Vệ sinh tay là nội dung cơ ản của PNC và là iện pháp hiệu quả nhất trong kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây ệnh trong các cơ sở khám chữa ệnh [3], [6].
Vệ sinh tay là biện pháp chính để giảm nhiễm trùng. Mặc dù hành động này là đơn giản, theo các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe là vấn đề toàn thế giới. Theo cập nhật gần đây dịch tễ học về tuân thủ VST, nó là phương pháp tiếp cận mới đã được chứng minh có hiệu quả và an toàn bệnh nhân toàn cầu. VST có ý nghĩa rất lớn trong công tác chăm sóc NB.
Các chỉ định vệ sinh tay: - VST của nhân viên y tế (NVYT) đóng vai tr rất quan trọng trong công tác chăm sóc NB. Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế khuyến cáo VST cần luôn thực hiện tại năm thời điểm khi chăm sóc NB: 1. Trước khi tiếp xúc với NB 2. Trước khi làm thủ thuật vô trùng 3.
Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 4. Sau khi tiếp xúc NB 5. Sau khi đụng chạm vào những vùng xung quanh NB Hình 1. Các thời điểm vệ sinh tay khi chăm sóc NB (WHO 2005) - Ngoài ra các hoạt động sau cũng cần VST: Khi chuyển chăm sóc từ nơi nhiễm sang nơi sạch trên cùng NB, sau khi tháo găng.
5 - Thực hiện kỹ thuật VST với nước và xà phòng khi tay nhìn thấy vấy bẩn bằng mắt thường hoặc sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết. Vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn khi tay không thấy bẩn bằng mắt thường. - Phải đảm bảo tay luôn khô hoàn toàn trước khi bắt đầu hoạt động chăm sóc NB. Các phương tiện thực hiện vệ sinh tay: - Thùng đựng khăn.
- Lavabo sạch, v i nước, nước rửa ình thường. - Xà phòng, cồn khử khuẩn, dung dịch khử khuẩn nhanh. - Khăn lau khô sạch. Để hạn chế rủi ro của NVYT trước bất kỳ hoạt động chăm sóc sức khỏe như tiếp xúc với chất hoặc các bề mặt bị ô nhiễm thì họ đều thực hiện thói quen mang đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) phải bố trí các địa điểm vệ sinh tay tại các khu vực chăm sóc và phục vụ NB. Các buồng khám, buồng thủ thuật, buồng bệnh, buồng xét nghiệm phải trang bị bồn vệ sinh tay. Các vị trí cần trang bị dung dịch vệ sinh tay có chứa cồn: - Giường NB nặng, NB cấp cứu. - Trên các xe tiêm, thay ăng.
- Bàn khám bệnh, xét nghiệm. - Cửa ra vào mỗi buồng bệnh. * Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân Phương tiện ph ng hộ cá nhân (PHCN) ao gồm: găng tay, khẩu trang, áo choàng, tạp dề, mũ, mắt kính mặt nạ và ủng hoặc ao giày. Mục đích sử dụng phương tiện ph ng hộ cá nhân là để ảo vệ NVYT, người ệnh, người nhà người ệnh và người thăm ệnh khỏi ị nguy cơ lây nhiễm và hạn chế phát tán mầm ệnh ra môi trường ên ngoài.
Nguyên tắc sử dụng phương tiện 6 ph ng hộ cá nhân là phải tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Mang phương tiện ph ng hộ khi dự kiến sẽ làm thao tác có ắn máu dịch tiết vào cơ thể [4]. Sử dụng găng Nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế có thể dễ dàng lây truyền trực tiếp qua bàn tay của NVYT hoặc qua vật dụng khác như thiết bị y tế,… Sử dụng găng áp dụng trong các trường hợp sau [5]: - Mang khi chạm vào máu, dịch cơ thể, tiết, chất thải, màng nhầy. - Thay đổi những hoạt động chăm sóc trên cùng một NB, sau khi tiếp xúc với vật dụng xung quanh NB có khả năng lây nhiễm.
- Hủy bỏ găng sau khi sử dụng, trước khi chạm các vật không bị ô nhiễm, các bề mặt và trước khi chuyển sang NB khác. - Thực hiện VST ngay lập tức sau khi loại bỏ găng. - Mang găng vô khuẩn trong quá trình làm thủ thuật vô khuẩn, phẫu thuật. - Mang găng sạch trong các thao tác chăm sóc, điều trị không đ i hỏi vô khuẩn và dự kiến tay nhân viên y tế có thể tiếp xúc với máu chất tiết, chất bài tiết, các màng niêm mạc và da không nguyên vẹn của NB hoặc khi da tay NVYT bị bệnh hoặc trầy xước.
- Mang găng khi NVYT làm vệ sinh, thu gom chất thải, đồ vải, xử lý dụng cụ y tế và các dụng cụ chăm sóc NB. - Tuân thủ đúng quy trình mang găng và tháo găng. Sử dụng khẩu trang Mang khẩu trang y tế khi: - Dự kiến sẽ bắn máu dịch tiết vào mặt mũi trong khi chăm sóc người bệnh (CSNB).