ĐẶT VẤN ĐỀ Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống thắt lưng (CSTL) ngày càng phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam. Đây là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm di chuyển lệch ra khỏi vị trí ban đầu đĩa đệm [33]. Là bệnh lý liên quan nhiều đến các yếu tố tuổi tác, đặc điểm công việc, giới tính và chế độ sinh hoạt, TVĐĐ CSTL gặp ở nhiều lứa tuổi; tuy nhiên, 30-50 tuổi là nhóm tuổi có tỷ lệ thoát vị đĩa đệm cao nhất, tần suất mắc ở nam thường gấp đôi nữ [49]. Báo cáo của Hiệp hội cột sống Hoa Kỳ năm 2005 cho thấy, tỷ lệ bệnh TVĐĐ CSTL chiếm từ 2-3% dân số.
Đến năm 2011, theo báo cáo của Jordon và cộng sự tại Phần Lan và Ý, con số này vẫn dao động trong khoảng từ 1-3% [49] và là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh liên quan tới đau lưng [52]. Cũng tương tự với báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO - World Health Organization), TVĐĐ CSTL là nguyên nhân chính (tỷ lệ từ 63-73%) gây ra đau CSTL [20]. Tại Việt Nam, Hội Chống đau Hà Nội báo cáo năm 2015 trên 12.136 người ở 48/63 tỉnh/thành phố cả nước ghi nhận tỷ lệ người đã từng đau thắt lưng kiểu hội chứng rễ thần kinh có liên quan đến TVĐĐ CSTL là 27,75% [50]. Một khảo sát tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang trong năm 2017-2018 đã chỉ ra tỷ lệ TVĐĐ CSTL đến khám do đau thắt lưng là 9,5% [11].
TVĐĐ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh (NB) do đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ gây liệt, chèn ép thần kinh vùng thắt lưng cùng gây chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Khi bị chèn ép, rễ thần kinh cơ bị teo ở các chi làm sinh hoạt của NB bị ảnh hưởng trầm trọng, thậm chí mất khả năng lao động, đôi khi để lại di chứng tàn phế suốt đời gây suy giảm chất lượng cuộc sống. Có nhiều phương pháp điều trị đã được áp dụng nhằm phục hồi rối loạn thần kinh, giảm nguy cơ tái phát. Khi liệu trình nội khoa không hiệu quả, cần can thiệp ngoại khoa nhằm giải phóng khối thoát vị chèn ép, cải thiện chức năng thần kinh.
Quá trình chăm sóc, điều trị và phục hồi này đòi hỏi NB phải thực hiện và duy trì tư thế, vận động phù hợp với mỗi giai đoạn nhằm cải thiện triệu chứng đau, hạn chế biến chứng và giảm nguy cơ tái phát cũng như hạn chế can thiệp ngoại khoa. Chính vì vậy, công tác Thư viện ĐH Thăng Long 2 chăm sóc điều dưỡng được cho là góp phần tạo nên sự thành công của điều trị ở giai đoạn này. Bệnh viện Thanh Nhàn là một trong những bệnh viện hạng I của thành phố Hà Nội có chức năng điều trị đa chuyên khoa. Hàng năm, bệnh viện tiếp nhận một số lượng lớn các ca NB TVĐĐ CSTL đến khám và điều trị.
Với đặc thù địa bàn nhiều đối tượng NB với nhiều ngành nghề và trình độ văn hoá khác nhau, câu hỏi đặt ra ở đây là NB đến khám và điều trị tại bệnh viện có những đặc trưng như thế nào và hiệu quả của công tác chăm sóc NB TVĐĐ CSTL ra sao? Đâu là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc? Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Kết quả chăm sóc người bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm người bệnh và kết quả chăm sóc người bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc người bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
TỔNG QUAN THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG 1. Khái niệm và phân loại Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm đốt sống thoát ra khỏi vị trí bình thường do đứt rách vòng sợi gây chèn ép vào ống sống hay rễ thần kinh sống. Hướng của thoát vị đĩa đệm có thể ra sau, lệch bên, vào lỗ ghép gây chèn ép rễ, dây thần kinh vùng thắt lưng [6]. Hình ảnh thoát vị đĩa đệm (Nguồn Joanna Blair (2020).
Lower Back Pain & The Herniated Disc) Phân loại theo hướng phát triển của nhân nhầy đĩa đệm, TVĐĐ CSTL chia làm 2 loại: - Thoát vị đĩa đệm ra trước: Nhân nhầy đĩa đệm phát triển ra trước thân đốt sống (ít gặp và không có biểu hiện đau rễ thần kinh). - Thoát vị đĩa đệm ra sau: Nhân nhầy thoát ra sau về phía ống sống, chèn ép vào màng cứng và rễ thần kinh [37]. Thư viện ĐH Thăng Long 4 1. Cơ chế bệnh sinh và sinh lý bệnh Trên thí nghiệm gây lồi đĩa đệm hay thoát vị nhân đệm được tạo ra do lực nén ngang đĩa đệm, các tổn thương đầu tiên khi bao xơ thay đổi về mặt bệnh lý được quan sát thấy ở ngoại biên.
Sự thoái hóa làm mất các cấu trúc bè của bao xơ, nên về phương diện hình ảnh, thoái hóa đĩa đệm thường được ghi nhận là kết hợp với TVĐĐ. Thoát vị đĩa đệm điển hình có thể được hình thành sau khi có một lực tác động lên phía sau bên của bao xơ hoặc sự lặp đi lặp lại các chấn thương nhỏ tác động lên cột sống thắt lưng cùng, hiếm khi gây ra do một chấn thương đơn thuần. Nguy cơ TVĐĐ tăng lên do các tác động rung, chịu lực nén hay giữ nguyên một vị trí kéo dài. Chấn thương cột sống thắt lưng cùng thường làm quá trình TVĐĐ xảy ra nhanh hơn.
Thoái hóa đĩa đệm là một phần của thoái hóa tự nhiên theo tuổi nhưng cũng có thể là hậu quả của tình trạng kém dinh dưỡng, hút thuốc lá, xơ hoá động mạch, những hoạt động liên quan đến nghề nghiệp, di truyền, chấn thương. Thoát vị đĩa đệm cấp tính gây ra bệnh lý đau theo rễ do các chất ở nhân đĩa gây viêm rễ thần kinh, trong đó proteolycan và phospholipases, interleukin 6 và nitric oxide phóng thích từ nhân đệm (chất trung gian, chất gây viêm), được chứng minh có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học đau rễ thần kinh [34]. Theo Furman và Yumashev, rễ thần kinh rất nhạy cảm với đau [35]. Khi khối TVĐĐ chèn ép vào bao rễ gây kích thích hoặc kéo căng rễ kèm theo phản ứng viêm xung quanh sẽ làm tổn thương mạch máu và gây phù nề và thiếu máu thứ phát.
Điều này làm cho rễ nhạy cảm với sự va chạm, vì vậy, các rối loạn cảm giác thường xuất hiện trước các rối loạn vận động. Mặc dù phần đĩa đệm thoát vị nằm phía trước rễ và chạm vào các sợi vận động, nhưng do áp lực phản hồi, các sợi cảm giác sẽ bị đè ép vào dây chằng vàng. Đè ép rễ mạn tính dẫn đến xơ hóa bao rễ, lâu ngày gây tổn thương sợi trục, rối loạn dẫn truyền, là hậu quả gây nên liệt các mức độ và rối loạn cảm giác. Ngoài ra, TVĐĐ còn chèn ép hoặc xuyên qua dây chằng dọc sau, nơi có các tận cùng cảm giác đau của dây thần kinh quặt ngược Lucshka, cũng gây ra triệu chứng đau trong hội chứng rễ.
Rách nặng ở vùng chu vi sau bên của bao xơ sẽ tạo 5 nên những lỗ thủng là nơi nhân đĩa đệm bị vỡ sau đó sẽ đi qua. Giảm chiều cao đĩa đệm thường là hậu quả của rách xung quanh bao xơ. Chất proteolycan và nước sẽ thoát qua những đường vòng bao xơ gây nên tình trạng thoái hóa nhân, sau đó sẽ gây giảm chiều cao đĩa đệm. Thoái hóa thân đốt sống và hình thành gai cột sống thường được quan sát thấy ở giai đoạn cuối.
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (Nguồn Frank H. Netter (2013) Atlas giải phẫu người, trang 162) Thư viện ĐH Thăng Long 6 1. Triệu chứng Triệu chứng lâm sàng của TVĐĐ CSTL được biểu hiện bằng hai hội chứng chính là Hội chứng cột sống và Hội chứng rễ thần kinh [15],[24]. Hội chứng cột sống - Đau CSTL có tính chất cơ học, có các điểm đau tại cột sống và cạnh CSTL.
- Có thể gặp biến dạng cột sống như mất đường cong sinh lý, vẹo cột sống. Người bệnh có tư thế vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng gây hạn chế tầm vận động của CSTL. Hội chứng rễ thần kinh - Dấu hiệu Lasegue: Góc tạo thành giữa đùi và mặt giường bình thường 700. Đây là dấu hiệu quan trọng và dấu hiệu này còn được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị.
- Dấu hiệu Bonnet: NB nằm ngửa, gấp cẳng chân vào đùi, vừa ấn đùi vào bụng vừa xoay vào trong. Bonnet dương tính nếu NB xuất hiện đau ở mông hoặc từ mông xuống mặt sau đùi và cẳng chân. - Dấu hiệu Neri: NB đứng thẳng, từ từ cúi xuống để hai ngón tay trỏ chạm đất, xuất hiện đau dọc dây thần kinh hông to, chân đau co gối lại. - Hệ thống điểm đau Valleix dương tính.
Rối loạn cảm giác - Tổn thương rễ L5: Giảm cảm giác mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mu chân, ngón chân. - Tổn thương S1: Giảm cảm giác mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân, bờ ngoài bàn chân. Rối loạn phản xạ gân xương - Tổn thương L4 – L5: Phản xạ gân gối giảm, phản xạ gân gót bình thường. - Tổn thương S1: Phản xạ gân gót giảm hoặc mất, phản xạ gân gối bình thường [36].
Rối loạn vận động - Tổn thương rễ L5: NB không đi được bằng gót chân. - Tổn thương rễ S1: NB không đi được bằng mũi chân. Trương lực cơ Giảm trương lực cơ và teo cơ ở vùng bị tổn thương. Rối loạn thần kinh thực vật Có thể gặp rối loạn bài tiết mồ hôi, nhiệt độ da giảm, phản xạ bài tiết vùng thần kinh hông kém, da, cơ loạn dưỡng, teo [40].
X-quang CSTL thẳng - nghiêng có thể cho biết dấu hiệu TVĐĐ CSTL thông qua hình ảnh hẹp khe liên đốt, kết đặc xương ở mâm đốt sống, gai xương, hẹp lỗ tiếp hợp và biến dạng trục cột sống. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI - Magnetic Resonance Imaging) là phương pháp được áp dụng phổ biến trong chẩn đoán, phương pháp cho biết chính xác vị trí và mức độ TVĐĐ CSTL [15],[24]. Chẩn đoán giai đoạn - Giai đoạn 1 (Giai đoạn đầu): Đau nhẹ vùng thắt lưng từng cơn, sau đó có thể tự hết mà không cần điều trị. - Giai đoạn 2 (Giai đoạn lồi đĩa đệm): Đau lưng cục bộ, đôi khi có kích thích rễ thần kinh.
- Giai đoạn 3 (Giai đoạn TVĐĐ thực thụ): Đau dữ dội theo cơn, kéo dài, hạn chế vận động. Thư viện ĐH Thăng Long 8 1.