Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về suy tim 1. Định nghĩa - Theo Hội tim mạch châu Âu ESC (2021), suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp gồm các triệu chứng cơ năng (như khó thở, mệt mỏi), và thực thể (như tĩnh mạch cổ nổi, ran phổi và phù ngoại vi) là hậu quả của những tổn thương thực thể hay rối loạn chức năng của quả tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu (suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm thu) [61]. - Bình thường, tim và hệ tuần hoàn luôn có sự điều chỉnh, thích nghi để đáp ứng được nhu cầu oxy của cơ thể trong các điều kiện hoạt động của cuộc sống.
Khi tim bị suy, tim không còn đủ khả năng để cung cấp oxy (máu) theo nhu cầu của cơ thể nữa. Vì vậy có thể định nghĩa: Suy tim là tình trạng bệnh lý trong đó cung lượng tim không đủ để đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể trong mọi tình huống sinh hoạt của người bệnh [1]. Hình ảnh suy tim Nguồn: www. Phân loại Có nhiều cách để phân loại suy tim khác nhau, dựa trên cơ sở [4]: - Theo tình trạng tiến triển của bệnh: suy tim cấp và suy tim mạn Theo hình thái định khu: suy tim phải, suy tim trái và suy tim toàn bộ.
Trên lâm sàng người ta thường hay áp dụng phân loại theo hình thái định khu. - Theo lưu lượng tim: suy tim giảm lưu lượng và suy tim tăng lưu lượng - Suy tim do tăng tiền gánh và suy tim do tăng hậu gánh - Theo mức độ suy tim: Có nhiều cách để đánh giá mức độ suy tim, nhưng trong thực tế lâm sàng, có 2 cách phân loại theo mức độ suy tim theo Hội Tim mạch học New York (New York Heart Association) viết tắt là NYHA, dựa trên sự đánh giá hoạt động thể lực và các triệu chứng cơ năng của người bênh và phân giai đoạn suy tim của Hiệp Hội Tim mạch và Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association/ American College of Cadiology) viết tắt là AHA/ACC đã được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi [1].1: Phân loại mức độ suy tim theo NYHA Độ Đặc điểm Người bệnh có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng nào, vẫn sinh I hoạt và hoạt động thể lực gần như bình thường. Các triệu chứng cơ năng chỉ xuất hiện khi gắng sức nhiều. Người bệnh bị II giảm nhẹ các hoạt động về thể lực.
Các triệu chứng cơ năng xuất hiện kể cả khi gắng sức rất ít, làm hạn chế III nhiều các hoạt động thể lực. Các triệu chứng cơ năng tồn tại một cách thường xuyên, kể cả lúc người IV bệnh nghỉ ngơi không làm gì cả.2: Phân giai đoạn suy tim theo AHA/ACC (2016) [4] Giai đoạn Đặc điểm Người bệnh có các nguy cơ bị suy tim nhưng chưa có bằng chứng về tổn thương cấu trúc chức năng tim, chưa có triệu chứng suy tim trên lâm sàng. A Các người bệnh tăng huyết áp, xơ vữa mạch, đái tháo đường, béo phì, hội chứng chuyển hoá. Có bằng chứng về tổn thương cấu trúc và chức năng tim nhưng chưa có B triệu chứng suy tim trên lâm sàng.
Nhồi máu cơ tim cũ, phì đại cơ tim thất trái, giảm EF, tổn thương van tim. Có bằng chứng về tổn thương cấu trúc và chức năng tim, có triệu chứng suy tim trên lâm sàng (tiền sử/ triệu chứng nhập viện lần đầu). C Người bệnh có bệnh tim cấu trúc và chức năng trước đó và kèm theo các triệu chứng của suy tim. Suy tim không đáp ứng với điều trị.
D Người bệnh có các triệu chứng suy tim rõ ràng khi chỉ gắng sức nhẹ hoặc khi nghỉ ngơi/ các người bệnh phải nhập viện vì suy tim. Dịch tễ suy tim - Suy tim là bệnh lý tim mạch có tốc độ gia tăng nhanh nhất, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi, chiếm khoảng 2 - 3% dân số nói chung và lên đến 10 - 20% ở nhóm trên 70 tuổi. Tỷ lệ tử vong lên đến 50%. Nguyên nhân tử vong có thể do suy tim tiến triển hoặc thứ phát ro các dối loạn nhịp thất.
Tỷ lệ tái nhập viện lên đến 50% tạo gánh nặng cho nền y tế quốc gia và gánh nặng chăm sóc (GNCS) cho người thân trong gia đình [5]. Nguyên nhân - Nguyên nhân gây suy tim trái là do các bệnh: tăng huyết áp động mạch, một số bệnh van tim (hở hay hẹp van động mạch chủ (ĐMC), hở van hai lá (VHL), các tổn thương cơ tim (nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, bệnh cơ tim), một số rối loạn nhịp (cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, cơn nhịp nhanh thất, bloc nhĩ - thất hoàn toàn), một số bệnh tim bẩm sinh (hẹp eo ĐMC, còn ống động mạch…) - Nguyên nhân gây suy tim phải: các nguyên nhân về phổi và dị dạng lồng ngực, cột sống (hen phế quản, viêm phế quản, gù vẹo cột sống…), các nguyên nhân tim mạch (hẹp VHL, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn…) - Nguyên nhân gây suy tim toàn bộ: suy tim trái tiển triển, các bệnh cơ tim giãn, 5 cường giáp trạng, thiếu máu nặng…[4]. Triệu chứng lâm sàng bệnh suy tim. Các triệu chứng của suy tim gây ra do hai cơ chế chính là do giảm cung lượng tim và do quá tải dịch, bao gồm: - Các triệu chứng do quá tải dịch: Ở tuần hoàn phổi: Khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, khó thở khi nghỉ ngơi, cơn khó thở kịch phát về đêm.
Ở tuần hoàn ngoại vi: Phù (cần lưu ý rằng cũng có nhiều nguyên nhân khác nhau gây phù mắt cá chân như huyết khối, viêm tĩnh mạch…), gan to, tĩnh mạch cổ nổi - Các triệu chứng do giảm cung lượng tim: Mệt mỏi, gầy sút cân Đau tức ngực, cảm giác nặng ngực hoặc đánh trống ngực Mạch nhanh Tụt huyết áp - Các rối loạn về hệ tiêu hoá thứ phát do suy tim sung huyết ví dụ: chướng bụng, chán ăn, buồn nôn, táo bón - Các rối loạn về hệ sinh dục tiết niệu thứ phát do giảm tưới máu thận: thiểu niệu hoặc vô niệu, tiểu nhiều lần, tiểu về đêm - Các triệu chứng thần kinh trung ương thứ phát do giảm tưới máu não và rối loạn điện giải: lú lẫn, giảm trí nhớ, đau đầu, rối loạn hành vi - Các triệu chứng thần kinh cơ: Chuột rút, gout [5]. Biến chứng và các biện pháp phòng ngừa biến chứng - Suy thận - Tổn thương cấu trúc van tim - Thiếu máu - Rối loạn nhịp tim - Tổn thương gan - Phù phổi - Sụt cân nhanh Các biện pháp phòng ngừa biến chứng suy tim [5] - Tuân thủ chế độ ăn lành mạnh: Hạn chế natri (muối) trong khẩu phần để kiểm 6 soát áp lực máu, tăng cường các thực phẩm giàu chất xơ, nhiều rau xanh, hạt, và thức ăn giảm natri. - Kiểm soát cân nặng: Giữ cân nặng ở mức khỏe, giúp giảm áp lực lên tim và cải thiện chức năng tim. - Tập thể dục đều đặn: Tập luyện 30 phút mỗi ngày, có thể tham khảo ý kiến bác sĩ về hình thức tập luyện phù hợp.
- Kiểm soát huyết áp: Uống thuốc đúng theo chỉ định bác sĩ kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh để đảm bảo huyết áp luôn ở ngưỡng an toàn - Ngừng hút thuốc lá: Hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây ra các vấn đề tim mạch. - Hạn chế tiêu thụ cồn: Uống cồn quá mức có thể ảnh hưởng xấu đến tim. - Kiểm tra định kỳ: Hãy tuân theo lịch trình kiểm tra y tế và thăm bác sĩ định kỳ nhằm xác định các biến chứng suy tim sớm hơn và điều chỉnh kế hoạch điều trị. Điều trị Mục tiêu điều trị suy tim là cải thiện tình trạng lâm sàng, khả năng, chức năng và chất lượng cuộc sống, ngăn ngừa nhập viện và giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh suy tim [1].
Điều trị không dùng thuốc - Chế độ nghỉ ngơi: Nghỉ ngơi là một việc khá quan trong vì góp phần làm giảm công của tim. Tuy nhiên, cần hiểu nghỉ ngơi theo ý nghĩa linh hoạt. Tuỳ mức độ suy tim mà có chế độ nghỉ ngơi, tập luyện khác nhau. Người bệnh suy tim nhẹ với nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch vẫn cần khuyến khích tập luyện thể lực nhưng không được gắng sức nặng hay thi đấu thể thao. Khi suy tim nặng hơn cần hoạt động nhẹ hơn và trong trường hợp suy tim rất nặng thì phải nghỉ ngơi tại giường theo tư thế nửa nằm nửa ngồi. Trong trường hợp suy tim mà người bệnh phải nằm điều trị lâu ngày, nên khuyến khích người bệnh xoa bóp, lúc đầu là thụ động, sau đó là chủ động ở các chi, nhất là hai chi dưới để làm cho máu tĩnh mạch trở về tim được dễ dàng hơn, giảm bớt các nguy cơ huyết khối tĩnh mạch. - Chế độ ăn giảm muối: 7 Chế độ ăn giảm muối là cần thiết, vì muối ăn (NaCl) làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, do đó làm tăng khối lượng tuần hoàn, từ đó gây tăng gánh nặng cho tim. Một người bình thường hấp thu khoảng 6 - 18g muối NaCl/ ngày, tức là 2.
Đối với người bệnh suy tim, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà áp dụng chế độ ăn giảm muối hoặc chế độ ăn gần như nhạt hoàn toàn. Chế độ ăn giảm muối: người bệnh chỉ được dùng < 3g muối NaCl/ ngày, tức là 1. Chế độ ăn gần như nhạt hoàn toàn: người bệnh chỉ được ăn < 1.2g muối NaCl/ ngày, tức là < 0. - Hạn chế lượng nước và dịch dùng cho người bệnh: Cần hạn chế lượng nước và dịch dùng cho người bệnh hàng ngày nhằm giảm bớt khối lượng tuần hoàn và giảm gánh nặng cho tim.
Chỉ nên dùng cho người bệnh khoảng 500 - 1000ml lượng dịch đưa vào cơ thể mỗi ngày. - Thở oxy: Thở oxy là biện pháp cần thiết trong nhiều trường hợp suy tim vì nó tăng cung cấp thêm oxy cho các mô, giảm bớt mức độ khó thở cho người bệnh, đồng thời làm hạn chế sự co mạch phổi thường gặp ở những người bệnh thiếu oxy. - Loại bỏ các yếu tố nguy cơ khác: Bỏ rượu, thuốc lá, cà phê… Giảm cân nặng ở những người bệnh béo phì Tránh các xúc cảm mạnh (stress) Ngừng những thuốc làm giảm sức co bóp của cơ tim nếu đang dùng, ví dụ: các thuốc chẹn beta loại không để điều trị suy tim, verapamil, disopyramide, flecainide… Tránh các thuốc của giữ nước như corticoid, NSAID… Điều trị những yếu tố làm nặng thêm tình trạng suy tim như thiếu máu, nhiễm trùng, rối loạn nhịp tim… 8 1.