ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ não (ĐQN) không chỉ là vấn đề quan tâm đặc biệt của chuyên ngành thần kinh mà còn trong các chuyên ngành y học trên toàn cầu về tỷ lệ mắc bệnh và hậu quả nghiêm trọng do bệnh gây ra. Bệnh bao gồm 2 thể: Nhồi máu não (NMN) và xuất huyết não [7], [8]. Trong đó NMN chiếm 62,4% tổng số đột quỵ xảy ra vào năm 2019, trong khi xuất huyết não chiếm 27,9% và xuất huyết dưới nhện chiếm 9,7%. Theo hội đột quỵ thế giới, mỗi năm có 12,2 triệu trường hợp đột quỵ mới trong đó có 16% xảy ra ở người trẻ 15-49 tuổi và 6,55 triệu người tử vong, 6% trong số đó là người trẻ.
Đó là con số đang báo động, đột quỵ vẫn là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai và cũng trong những nguyên nhân gây tàn tật hàng đầu [31], [34]. Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Nam Á có tỷ lệ ĐQN cao, tỉ lệ ĐQN gia tăng song hành với các bệnh lí không lây nhiễm, bao gồm: tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh lý tim mạch và ung thư [7],[8]. Theo báo cáo của "Hội phòng chống tai biến mạch máu não Việt Nam", năm 2015 Việt Nam có 225.000 người bệnh mới mắc, số người bệnh đang sống là 540.720 người, hàng năm tử vong khoảng 117.900 người, ba phần tư số người bệnh tuổi từ 65 trở lên [1]. Một trong số những yếu tố nguy cơ của ĐQN là tuổi, theo các nghiên cứu, cứ tăng thêm 10 tuổi thì nguy cơ đột quỵ não sẽ tăng lên gấp hai lần, cùng với đó thì tỉ lệ bệnh nhân nhồi máu não cũng tăng theo tỷ lệ ĐQN [22],[36].
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của y học đã giúp giảm đi đáng kể tỉ lệ tử vong nhưng cũng làm tăng đáng kể tỉ lệ người bệnh sống sót có di chứng. Ở Mỹ, 85% người bệnh nhồi máu não được cứu sống và hiện tại có khoảng 4 triệu người bệnh sống một mình với các di chứng của bệnh [38]. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ môn Thần kinh, Trường Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ tử vong là 28%, số người bệnh sống sót sau tai biến có di chứng vừa và nhẹ 68,42%. Việc chăm sóc người bệnh ĐQN nói chung và NMN nói riêng có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và sự cải thiện vẫn tiếp tục kéo dài trong vài năm.
Cùng với sự phát triển của Y học với những tiến bộ không ngừng, các phương tiện chẩn đoán và điều trị hiện đại đã giúp cho việc chẩn đoán chính xác, điều trị hiệu quả, chăm sóc tốt hơn [23],[40]. Tuy nhiên, để công tác chăm sóc, điều trị có hiệu quả và giảm thiểu nguy cơ tai biến đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó, điều dưỡng là một yếu tố vô cùng quan trọng, là mắt xích không thể thiếu của công tác chăm sóc sức khỏe. Quá trình chăm sóc, điều trị của mỗi người bệnh ĐQN nói chung và NMN nói riêng đều gắn liền với vai trò, vị trí và chức năng của người điều dưỡng [38], [39]. Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là bệnh viện tuyến đầu của ngành y học cổ truyền, nơi kết hợp điều trị giữa y học cổ truyền và y học hiện đại.
Hàng năm, bệnh viện thường xuyên nhận khám và điều trị cho nhiều người bệnh nhồi máu não ở nhiều độ tuổi khác nhau, NB hồi phục tốt sau khi điều trị. Mặc dù vậy cho đến nay bệnh viện chưa có đề tài nào đánh giá kết quả chăm sóc và mô tả đặc điểm của NB NMN nói riêng và ĐQN nói chung. Chính vì vậy, để nhằm nâng cao kết quả chăm sóc người bệnh NMN, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Chăm sóc ngƣời bệnh đột quỵ não và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ƣơng năm 2022 - 2023”, với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm người bệnh và kết quả chăm sóc người bệnh đột quỵ não thể nhồi máu não tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2022-2023.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc người bệnh đột quỵ não thể nhồi máu não. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về đột quỵ não thể nhồi máu não 1. Sơ lược về hệ thống động mạch nuôi não Não chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể, nhưng khi cơ thể ở trạng thái nghỉ não nhận đến 20% cung lượng tim và tiêu thụ khoảng 20% tổng lượng oxy hít vào.
Nó được tưới máu bởi hai hệ thống động mạch: hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch sống – thân nền [6], [26]. - Hệ động mạch cảnh trong đi ở phía trước cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đại não và chia thành 4 ngành tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước. Mỗi động mạch não chia làm hai loại ngành: Ngành nông cung cấp máu cho vỏ não, ngành sâu đi vào trong não. - Hệ động mạch sống - nền đi ở phía sau phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặt dưới thùy thái dương và thùy chẩm Các nhánh nối thông ở nền sọ của hai hệ động mạch này tạo thành đa giác Willis.1: Hình ảnh giải phẫu động mạch nuôi não [23] Nguồn: Khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện đại học y Hà Nội (2016).
Thư viện ĐH Thăng Long 4 1. Khái niệm về Nhồi máu não Theo Tổ chức Y tế thế giới, đột quỵ là tình trạng bệnh lý gây ra bởi tình trạng không thể cung cấp máu cũng như oxy đến não khiến não bị mất chức năng một cách đột ngột mang tính chất cấp tính. Bệnh lý diễn ra trong vòng 24 giờ trường hợp nặng có khả năng dẫn đến tử vong. Đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính (acute ischemic stroke) hay còn gọi là nhồi máu não là tình trạng dòng máu đột ngột không lưu thông đến một khu vực của não làm mất chức năng thần kinh tương ứng.
Là một quá trình bệnh lý làm giảm lưu lượng tuần hoàn tới một vùng của não do hẹp, tắc mạch máu não hoặc do hạ huyết áp. Sự tắc nghẽn có thể được gây ra bởi sự hình thành cục máu đông trong mạch máu não hoặc cổ, được gọi là huyết khối; sự chuyển động của một cục máu đông từ một bộ phận khác của cơ thể như tim đến não, được gọi là tắc mạch; hoặc hẹp động mạch nghiêm trọng. Thiếu máu não là tình trạng một phần não bị ngừng cung cấp máu, nếu sự thiếu cung cấp máu không được khắc phục hoặc kéo dài thì phần não đó sẽ bị hoại tử do thiếu oxy và glucose. Vùng não bị hoại tử do thiếu sự cung cấp máu này được gọi là nhồi máu não [2].
Hình ảnh nhồi máu não Nguồn: Khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện đại học y Hà Nội (2016). Phân loại Hệ thống phân loại đột quỵ được xây dựng dựa trên Thử nghiệm đa trung tâm điều trị đột quỵ cấp (TOAST), trong đó phân chia nhồi máu não thành 3 thể chính như sau [6],[31]: - Nhồi máu não động mạch lớn: Nhồi máu não động mạch lớn thường liên quan đến huyết khối hình thành trên thành động mạch bị vữa xơ, thường là động mạch cảnh, động mạch sống nền và động mạch não; tuy nhiên, nhồi máu não động mạch lớn cũng có thể do huyết khối hoặc cục tắc từ tim và đây cũng là nguyên nhân phổ biến nhất gây tái phát nhồi máu não. - Nhồi máu não động mạch nhỏ, hoặc nhồi máu ổ khuyết: Nhồi máu ổ khuyết do tắc mạch nhỏ (thường là những động mạch xuyên nằm sâu trong não) mà nguyên nhân thường do bệnh lý mạch máu. Nhiều khi không xác định được nguyên nhân gây nhồi máu não và được xếp vào loại nhồi máu não không rõ nguyên nhân.
- Nhồi máu não do cục tắc di chuyển từ tim: là các các cục máu đông hình thành 1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Đột quỵ thiếu máu não là hậu quả của các nguyên nhân gây giảm hoặc tắc nghẽn dòng máu (huyết khối ngoại sọ hoặc nội sọ gây lấp mạch). Thiếu máu cục bộ và tổn thương tế bào thần kinh không hồi phục khi lưu lượng máu não dưới 18 ml/100g mô não/phút, tế bào chết nhanh chóng khi lưu lượng máu dưới 10ml/100g mô não/phút [32], [33]. Các yếu tố nguy cơ Các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não bao gồm các yếu tố có thể thay đổi và không thể thay đổi [36],[42] - Các yếu tố nguy cơ không thay đổi: Tuổi Chủng tộc Giới tính Thư viện ĐH Thăng Long 6 Tiền sử đau nửa đầu kiểu migrain Loạn sản xơ cơ Di truyền: gia đình có người bị đột quỵ hoặc bị các cơn thiếu máu não thoáng qua - Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi[43],[44]: Tăng huyết áp (quan trọng nhất) Đái tháo đường Bệnh tim: rung nhĩ, bệnh van tim, suy tim, hẹp van hai lá, bệnh tim bẩm sinh có luồng thông trái - phải (ví dụ lỗ bầu dục thông), giãn tâm nhĩ và tâm thất Rối loạn lipid máu Thiếu máu não thoáng qua (TIAs) Hẹp động mạch cảnh Tăng homocystine máu Các vấn đề về lối sống: uống rượu quá mức, hút thuốc lá, sử dụng ma túy, ít hoạt động thể lực Béo phì Dùng thuốc tránh thai hoặc dùng hormone sau mãn kinh Bệnh hồng cầu hình liềm 1.2 Nguyên nhân Bệnh nhồi máu não thường do các nguyên nhân sau [2]: - Bệnh tim gây lấp mạch não: rối loạn nhịp tim, đặc biệt là rung nhĩ, hẹp van 2 lá, van nhân tạo, bệnh cơ tim dãn nở, suy tim ứ huyết… - Bệnh mạch máu lớn: xơ vữa động mạch, gây tắc mạch tại chỗ hoặc lấp mạch - Bệnh mạch máu nhỏ (nhồi máu lỗ khuyết): tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm động mạch.
- Bệnh huyết học: tăng hồng cầu nguyên phát, bệnh tiểu cầu, xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh hồng cầu liềm…. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đột quỵ não thể nhồi máu não 1. Triệu chứng lâm sàng Những triệu chứng của bệnh nhồi máu não thường xuất hiện ngẫu nhiên, mang tính đột ngột và rất đa dạng, phụ thuộc vào mức độ tổn thương cũng như vị trí vùng não bị tổn thương [2], [44]. Các triệu chứng thường gặp: - Đau đầu: Đau đầu dữ dội, đột ngột mà không rõ nguyên nhân kèm theo các triệu chứng khác như hoa mắt, chóng mặt, khó thở, tức ngực, đi lại loạng choạng, choáng váng, mắt mờ nhìn không rõ, tối sầm mặt mày,.