MỞ ĐẦU Đột quỵ hay còn được gọi là tai biến mạch máu não (TBMMN), là tình trạng não bộ bị tổn thương nghiêm trọng trong quá trình tưới máu đến não bị gián đoạn hoặc giảm đáng kể khiến não bộ thiếu oxy, không đủ dinh dưỡng nuôi các tế bào. Đột quỵ là một trong ba nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên Thế Giới, hầu hết những người sống sót sau cơn đột quỵ thường kèm theo các di chứng như tê liệt, cử động yếu một phần cơ thể, mất ngôn ngữ, rối loạn cảm xúc, thị giác suy giảm…[54]. Theo Tổ chức y tế Thế Giới (WHO) hàng năm có khoảng 15 triệu người trên toàn thế giới trải qua cơn đột quỵ, trong đó 1/3 sẽ sống chung với các khuyết tật và 7,8 triệu ca tử vong [48], [59]. Sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật hỗ trợ việc phát hiện sớm và điều trị cho các người bệnh đột quỵ, giúp giảm tỷ lệ tử vong.
Tuy nhiên xu hướng tàn tật lại gia tăng, 25% tàn tật ít và 40% tàn tật từ trung bình đến nặng [16]. Theo WHO, trong bốn thập kỷ qua, tỷ lệ người gặp phải vấn đề đột quỵ ở các nước có thu nhập thấp và trung bình tăng gấp đôi so với các nước có thu nhập cao [60]. Tại Việt Nam, ước tính tỷ lệ mới mắc hàng năm 115,7/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc 355,9/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc trong những người trên 18 tuổi tới 1,62% và tỷ lệ tử vong 65,1/100. Thêm vào đó, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ như hút thuốc lá, sử dụng rượu, tăng huyết áp, thừa cân và béo phì, ít vận động thể lực, có xu hướng ngày càng gia tăng [27], [37].
Hiện nay, theo y học hiện đại (YHHĐ) hỗ trợ điều trị đột quỵ có nhiều biện pháp như sử dụng thuốc tiêu sợi huyết, các tiến bộ trong hồi sức cấp cứu, phẫu thuật thần kinh. Tuy nhiên, đột quỵ vẫn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhiều người bệnh (NGƯỜI BỆNH). Số lượng người bệnh đột quỵ đến được với đơn vị đột quỵ trong những giờ đầu là rất ít, chỉ có khoảng < 20% có thể độc lập sau đột quỵ [21], 80% người bệnh có nhu cầu phục hồi chức năng (PHCN) sau giai đoạn cấp theo WHO [59]. Theo Nguyễn Văn Đăng (1997), tỷ lệ người bệnh đột quỵ có di chứng về vận động chiếm khoảng 92,6% [10].
Điều trị giai đoạn PHCN cho người bệnh đột quỵ có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với chính NB, gia đình và xã hội. Trong giai đoạn này, quá trình điều trị đòi hỏi phải. 2 phối hợp nhiều phương pháp để đạt được hiệu quả. Và thật là thiếu sót nếu không nhắc đến vai trò của y học cổ truyền (YHCT).
Ngày nay, nền YHCT có nhiều phương pháp tham gia điều trị cho NB trong giai đoạn sau đột quỵ. Trong đó, các phương pháp không dùng thuốc như hào châm, quang châm, thể châm, điện châm, châm cứu cải tiến, cấy chỉ, mãng châm đều cho những kết quả tốt [4]. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu chứng minh hiệu quả của các phương pháp điều trị không dùng thuốc này cho các người bệnh đột quỵ [11], [13], [14]. Tại bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp (BV PHCN- ĐTBNN), số lượng NB cần được PHCN sau đột quỵ khá lớn.
Các NB cần được PHCN tại khoa Y dược cổ truyền đều được điều trị kết hợp giữa các phương pháp YHHĐ và YHCT, giữa các phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Phác đồ điều trị được tuân theo phác đồ của Bộ Y tế. Nhiều phương pháp không dùng thuốc đã triển khai tại khoa Y dược cổ truyền trong những năm qua như hào châm, đầu châm, điện châm, châm cứu cải tiến và cấy chỉ để điều trị cho người bệnh. Hai phương pháp điện châm và cấy chỉ đều là phương pháp YHCT được áp dụng trong PHCN cho NB đột quỵ hiện nay tại BV PHCN-ĐTBNN.
Do phương pháp điện châm đã được chứng minh hiệu quả trên NB bị liệt ½ người [14]. Trong khi đó, cấy chỉ là phương pháp mới được đưa vào áp dụng tại khoa Y dược cổ truyền, chưa có nhiều đánh giá. Mặt khác, những năm qua chủ trương của ngành y tế nước ta đã thừa kế và phát huy được những vốn quý của YHCT, cũng như việc kết hợp YHHĐ với YHCT trong phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh. Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị PHCN cho NB đột quỵ, chúng tôi tiến hành đề tài “So sánh hiệu quả phục hồi chức năng vận động của phương pháp cấy chỉ so với điện châm trên người bệnh sau đột quỵ”.
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1. Có sự khác biệt trong hiệu quả phục hồi chức năng vận động của phương pháp cấy chỉ so với điện châm trên người bệnh sau đột quỵ tại BV PHCN – ĐTBNN năm 2020 - 2022 hay không? 2. Có hay không các yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi chức năng vận động của phương pháp cấy chỉ so với điện châm trên người bệnh sau đột quỵ tại BV PHCN – ĐTBNN năm 2020 - 2022? MỤC TIÊU TỔNG QUÁT So sánh hiệu quả phục hồi chức năng vận động của phương pháp cấy chỉ so với điện châm trên người bệnh sau đột quỵ tại BV PHCN – ĐTBNN năm 2020 - 2022. MỤC TIÊU CỤ THỂ 1.
So sánh hiệu quả phục hồi sức cơ của người bệnh đột quỵ qua chỉ số MRC ở hai nhóm cấy chỉ và điện châm. So sánh hiệu quả phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ qua chỉ số Barthel ở hai nhóm cấy chỉ và điện châm. Xác định các yếu tố liên quan đến hiệu quả phục hồi sức cơ qua chỉ số MRC trên người bệnh đột quỵ. Xác định các yếu tố liên quan đến hiệu quả phục hồi chức năng vận động qua chỉ số Barthel trên người bệnh đột quỵ.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đột quỵ theo y học hiện đại 1.1 Đại cương về đột quỵ Đột quỵ não hay còn gọi là tai biến mạch máu não: danh từ này được định nghĩa như một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi hiện tượng mất chức năng (thiếu sót chức năng) não khu trú hơn là lan tỏa, xảy ra đột ngột, tồn tại trên 24 giờ hoặc tử vong. Là những tổn thương mạch máu não không do chấn thương (WHO, 1989) [60]. Đột qụy não (stroke): là dạng viết ngắn gọn của “stroke of apoplexy”. “apoplexy” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “apoplexia”.
Sơ đồ cấp máu của hệ thống động mạch não Nguồn: Thần kinh học - Đại cương đột quỵ não [8] 1.2 Phân loại đột quỵ và cơ chế bệnh sinh của đột quỵ TBMMN có hai thể chính: Nhồi máu não, xuất huyết não. Nhồi máu não xảy ra khi mạch máu bị nghẽn hoặc lấp, chiếm 80 - 85% trường hợp. Xuất huyết não chiếm 15 - 20% các trường hợp [8], [39]. Phân loại đột quỵ 1.1 Nhồi máu não Bệnh lý động mạch lớn: nguyên nhân chủ yếu do huyết khối xơ vữa động mạch, hiếm gặp hơn là tách động mạch, viêm mạch, bệnh moyamoya.
Bệnh lý động mạch lớn có thể gây đột quỵ theo các cơ chế: Tắc mạch (Thrombosis) tại chỗ: huyết khối thành lập ở khu vực mảng xơ gây tắc hoàn toàn động mạch tại chỗ. Huyết khối tắc mạch tại chỗ của các động mạch nội sọ thường gây nhồi máu não nặng do bàng hệ khu vực này hiệu lực kém hơn. Nguyên nhân này ít gây nhồi máu đột ngột. Diễn tiến bệnh từ từ do quá trình xơ vữa hình thành từ từ.
Điều này tạo điều kiện phát triển hệ tuần hoàn bàng hệ. Tắc mạch do cục máu đông di chuyển Nguồn: Nguyễn Khắc Ninh [22] Giảm tưới máu phần xa (cơ chế huyết động): mảng xơ gây hẹp động mạch ngày càng nặng, gây ra dòng xoáy và cuối cùng là giảm tưới máu đoạn xa, phía sau chỗ hẹp. Bệnh lý mạch máu nhỏ (nhồi máu não lỗ khuyết) chủ yếu do tăng huyết áp, tổn thương lipohyalinosis, xơ vữa tắc gốc nhánh xuyên, hoặc do xơ vữa đoạn gần các động mạch nhánh xuyên. Xảy ra ở các động mạch và tiểu động mạch đường kinh từ 40 – 400 mcm.
Chủ yếu là các nhánh động mạch xuyên của động mạch thân não giữa, các nhánh xuyên đồi thị từ các động mạch não sau, và các nhánh xuyên từ động mạch thân nền. Lấp mạch từ tim chiếm 20 - 25% các nguyên nhân gây đột quỵ thiếu máu não. Thường ảnh hưởng đến động mạch não giữa. Kích thước vùng nhồi máu thường lớn do kích thước cục huyết khối to hơn và không đủ tuần hoàn bàng hệ.
Cục máu động gây tắc giàu fibrin, dễ ly giải, di chuyển và nhồi máu dễ chuyển dạng xuất huyết hơn. Những nguyên nhân không thường gặp khác là bóc tách động mạch, bệnh moyamoya, viêm động mạch, bất thường đông máu… [8], [9], [25], [30], [29].2 Xuất huyết não Bệnh lý mạch máu lớn: nhồi máu chuyển dạng xuất huyết, bệnh moyamoya, hội chứng co mạch não có hồi phục. Nguyên nhân không xác định và do bệnh mạch ưa nhuộm congo (chỉ chẩn đoán khi mổ tử thi). Vỡ túi phồng động mạch: Thường gặp ở chỗ phân nhánh của mạch máu lớn vùng đáy não gây chảy máu vào khoang dưới nhện.
Vỡ túi phồng động tĩnh mạch: Chủ yếu ở nữa bán cầu não sau, nam nhiều hơn nữ, thường gây tụ máu và ít gây xuất huyết dưới nhện. Các bệnh gây chảy máu: Bệnh bạch cầu, tiêu sợi huyết, bệnh ưa chảy máu. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như xuất huyết vào tổ chức não tiên phát và thứ phát do u, viêm nhiễm động tĩnh mạch, thuốc gây nghiện. Các nguyên nhân hiếm như sau chụp mạch não, dùng thuốc giãn mạch, gắng sức, thủ thuật thăm dò tiết niệu, biến chứng dò động tĩnh mạch xoang hang, thiếu dưỡng khí, bán đầu thống, dị dạng quái, viêm não thể vùi.
Bệnh lý mạch máu nhỏ Bệnh lý động mạch nhỏ thường gây xuyết huyết là do tăng huyết áp. Vị trí thường gây xuất huyết ở động mạch não giữa, nhánh sâu (động mạch Charcot) Bệnh mạch máu não dạng bột (xuất huyết não thùy). Bệnh mạch máu nhỏ di truyền [9], [25], [28], [53],. Phân loại đột quỵ theo CDC Hoa Kì Nguồn: The type of stroke you have affects your treatment and recovery [41] .3 Chẩn đoán đột quỵ 1.1 Lâm sàng Khi so sánh giữa hai cơ chế gây TBMMN, thiếu máu não sẽ gây khiếm khuyết thần kinh thường khu trú theo phân bố chi phối của một khu vực mạch não và ít kèm theo đau đầu, suy giảm ý thức.
Trong khi đó, xuất huyết não thường gây khiếm khuyết thần kinh không nhất thiết khu trú theo phân bố chi phối của một khu vực mạch não và thường kèm theo nôn ói, đau đầu, suy giảm ý thức.