ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh Zona là một bệnh da cấp tính do Varicella zoster virus gây nên. Đây là một bệnh thường gặp trong các bệnh da do virus gây nên. Hàng năm có khoảng 600000 đến 850000 người mắc zona trên toàn thế giới. Nguy cơ mắc Zona trong suốt cuộc đời chiếm 10 đến 20%.
Ở nước ta bệnh zona chiếm 41.53% tổng số bệnh da do virus và chiếm 5,33% tổng số bệnh da điều trị nội trú tại bệnh viện Da Liễu Quốc Gia từ năm 1994 – 1998 [1]. Bệnh zona có thể gặp mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở những người lớn tuổi, đặc biệt là trên 50 tuổi. Bệnh cũng thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch kéo dài, hóa trị liệu điều trị ung thư, bệnh nhân HIV/AIDS,. Riêng bệnh nhân HIV/AIDS thì bệnh zona chiếm tỉ lệ cao hơn (29.4/1000 người /năm), thương tổn da nặng và lan tỏa hơn, đây cũng là dấu hiệu chỉ điểm của HIV/AIDS.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh zona là thương tổn da và đau. Thương tổn là mụn nước hoặc bọng nước mọc thành chùm ở một vùng da dọc theo một vùng thần kinh chi phối vùng tổn thương. Thương tổn da thường khu trú ở một bên cơ thể. Ở những người bệnh bị suy giảm miễn dịch, các thương tổn của da có thể ở cả hai bên hoặc rải rác khắp cơ thể (mụn nước bọng nước lưu vong).
Đau là một triệu chứng quan trọng trong bệnh zona. Đau có thể xuất hiện trước khi mọc tổn thương (đau tiền triệu), hoặc cùng lúc có thương tổn trên da và có thể tồn tại nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi thương tổn da đã hoàn toàn lành sẹo [3],[5],[6]. Các thương tổn da trong bệnh zona thường khỏi sau 2-3 tuần [3],[29],[32] nhưng đau còn có thể kéo dài tùy thuộc vào tuổi, bệnh liên quan và thuốc điều trị sớm. Do đó công tác chăm sóc của điều dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Đây cũng là vấn đề mà y học hiện đại dành sự quan tâm đặc biệt mặc dù đã có rất nhiều thuốc và phác đồ được đưa ra để điều trị. Trên thế giới đã có một số bài báo cáo đánh giá hiệu quả điều trị zona cho kết quả khả quan, nhưng ở 1 Việt Nam đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng chăm sóc người bệnh Zona và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Da liễu- dị ứng Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108’’. Với 2 mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh Zona tại Trung tâm Da liễu Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc người bệnh Zona tại Trung tâm Da liễu Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 năm 2024. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học Bệnh Zona hay còn được gọi là bệnh giời leo, do virus Varicella Zoster (VZV) gây ra.
Đây là cùng loại virus gây bệnh thủy đậu và sau khi mắc thủy đậu, virus vẫn tồn tại tiềm ẩn trong cơ thể, thường nằm tại các hạch thần kinh. Khi hệ miễn dịch suy giảm, virus có thể tái hoạt động và gây ra bệnh Zona. Bệnh Zona có tính toàn cầu, nhưng tỷ lệ mắc bệnh khác nhau tùy theo khu vực, độ tuổi và tình trạng sức khỏe của cộng đồng. Bệnh xuất hiện vào tất cả các mùa trong năm nhưng thường mùa xuân và mùa thu là mùa có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn.
Chưa có bằng chứng thuyết phục nào về bệnh lây qua đường tiếp xúc. Sự xuất hiện của bệnh hầu như không đi cùng với sự xuất hiện của bệnh thủy đậu. Bệnh gặp ở cả hai giới, mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc. Hơn 75% trường hợp nhiễm bệnh có độ tuổi ngoài 50, ở độ tuổi dưới 20 thì tỉ lệ nhiễm bệnh thầp hơn 10%.
Bệnh thường hay gặp ở những người suy giảm miễn dịch như hóa trị liệu ung thư, người dùng thuốc chống thải bỏ mảnh ghép. đặc biệt ở người bệnh HIV/AIDS thì khả năng mắc bệnh cao hơn. Một nghiên cứu dài hạn cho thấy những người có HIV (+) thì có tỷ lệ mắc zona là 29,4/1000 người/ năm so với 2/ 1000 người/ năm ở nhóm HIV (-) đối chứng và có khi là dấu hiệu gợi ý bệnh nhân mắc HIV/AIDS ≥ [28], [29]. Căn nguyên VZV là một trong 8 loại virus gây bệnh ở người (Human Herpes Virus - HHV) [3].
HHV là virus có cấu trúc nhân ADN (Deoxyribonucleic acid) [34]. Cơ chế bệnh sinh VZV có mặt ở khắp nơi, rất dễ lây, đặc biệt là trẻ em. Bệnh Zona, còn gọi là Herpes Zoster, là kết quả của sự tái hoạt động của virus Varicella Zoster (VZV), loại virus gây bệnh thủy đậu. Sau khi một người đã mắc thủy đậu, 3 VZV không hoàn toàn bị loại bỏ khỏi cơ thể mà vẫn tồn tại ở trạng thái tiềm ẩn trong các hạch thần kinh cảm giác, đặc biệt là các hạch rễ lưng của tủy sống và các hạch thần kinh sọ.
Khi hệ miễn dịch suy yếu, virus có thể được kích hoạt trở lại, gây ra bệnh Zona. Đặc điểm lâm sàng Hình 1. Hình ảnh tổn thương do Zona virus gây ra (nguồn: Trung tâm Da liễu Dị ứng- Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108) 1. Thương tổn trên da Trước khi tổn thương mọc 2 – 3 ngày thường có cảm giác báo hiệu trước như: rát dấm dứt, đau vùng sắp mọc tổn thương.
Kèm theo triệu chứng toàn thân ít hoặc nhiều như mệt mỏi đau đầu.hạch ngoại vi lân cận có thể sưng và đau. Vị trí: thường khu trú tập trung ở những vùng đặc biệt và chỉ có một bên của cơ thể thành một khoanh dọc theo các đường của dây thần kinh chi phối như trán – quanh mắt – đầu, hoặc cổ vai cánh tay, liên sườn một bên từ sau lưng 4 vòng ra ngực, hoặc dọc từ hông xuống đùi, nhưng cá biệt bị cả hai bên hay lan tỏa [2], [3], [12], [16], [17], [18], [19]. Tổn thương cơ bản: thường bắt đầu là dát đỏ hình tròn, hình bầu dục kích thước 0.5 – 1cm, sau 1 – 2 ngày xuất hiện mụn nước, bọng nước không căng, mọc thành từng chùm có dịch trong hoặc đục (mủ) hoặc đỏ hồng (máu). Sau 3 – 5 ngày bọng nước dập vỡ ra thành vết loét trợt ướt, dần đóng vẩy tiết sau lành để lại sẹo.
Từ khi bắt đầu mọc đến khi lành khoảng 20 – 30 ngày. Trước hoặc cùng với tổn thương da, thường nổi hạch sớm, đau ở vùng tương ứng. Hạch là dấu hiệu quan trọng để chuẩn đoán bệnh [2], [3], [6]. Rối loạn cảm giác rất thường gặp.
Tại vùng da tổn thương cảm giác da có thể tăng, giảm hoặc rối loạn cảm giác. Cá biệt có khi bị viêm tủy leo gây tử vong [1], [2], [3], [6], [8], [9]. Đau do bệnh zona Đau do bệnh zona được xếp vào danh mục đau thần kinh (Neuropathic pain). Đau thần kinh là chứng đau do những thương tổn nguyên phát, hoặc những rối loạn chức năng trong hệ thần kinh cảm giác gây nên Phân loại đau: Đau tiền triệu: đau xuất hiện trước khi có thương tổn da của bệnh zona.
Đau zona: đau xuất hiện trong vòng 30 ngày kể từ khi xuất hiện thương tổn trên da bệnh zona. Đau sau zona: đau kéo dài trên 30 ngày kể từ khi xuất hiện thương tổn da của bệnh zona. Các triệu chứng toàn thân Triệu chứng toàn thân có thể có tùy theo từng trường hợp cụ thể: Viêm hạch (sưng, đau) vùng lân cận Sốt, thường ở mức độ nhẹ và vừa, bệnh nhân có cảm giác ớn lạnh Mệt mỏi, kém ăn, đau khớp 1. Các thể cận lâm sàng Các xét nghiệm cận lâm sàng giúp hỗ trợ chẩn đoán bệnh Zona (Herpes Zoster) và xác định mức độ bệnh cũng như các biến chứng có thể xảy ra.
5 Xét nghiệm sinh học phân tử (PCR - Polymerase Chain Reaction) Xét nghiệm kháng thể huyết thanh (Serology) Xét nghiệm hình ảnh Điện cơ đồ (Electromyography - EMG) và nghiên cứu dẫn truyền thần kinh 1. Các thể lâm sàng Bệnh Zona (Herpes Zoster) có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức lâm sàng khác nhau, tùy thuộc vào vị trí tổn thương và mức độ ảnh hưởng của virus Varicella Zoster (VZV) đến các dây thần kinh. Sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi sau đó xuất hiện tăng cảm hoặc tăng dị cảm ở nơi sắp nổi tổn thương Zona. Sau 1-2 ngày, phát ban ở một hoặc hai vùng lân cận.
Chúng thường phát ban dọc theo vùng da ngực, trên mặt và thường một bên theo đường dây thần kinh chi phối. Sau đó phát triển hình thành mụn nước khoảng 3-5 ngày sau đó vết phát ban dần khô và đóng vảy. Phát ban thường lành sau 2-4 tuần và có thể để lại sẹo Theo vị trí tổn thương: Zona mắt: đau và phát ban vùng trán, mi mắt gây ra các biến chứng như viêm giác mạc, kết mạc, củng mạc thậm chí đe doạ thị lực [16]. Zona tai: hay còn goj là hội chứng Ramsay Hunt gây mụn nước mọc ngoài tai, xung quanh tai [24].
Zona liên sườn ngực: là thể lâm sàng hay gặp nhất Zona cổ: xuất hiện đám rôí cổ nông và cổ cánh tay Zona gáy: có tổn thương ở gáy, da đầu và vành tai Zona bụng, hông, sinh dục,… 1. Biến chứng Bội nhiễm vi khuẩn gây viêm mô tế bào và hoại tử khi đó thương tổn gây viêm tấy nhiều, trong mụn nước, bọng nước chứa mủ, bội nhiễm có thể gây ra nhiễm khuẩn huyết (do liên cầu, tụ cầu khuẩn) (hiếm gặp) 6 Thương tổn dây thần kinh. Loại biến chứng này khá phổ biến, gây ra đau sau zona (postherpetic pain) kéo dài nhiều tháng nhiều năm sau khi thương tổn da đã lành. Có thể có liệt một số dây thần kinh như liệt dây VII ngoại vi, mất cảm giác lưỡi Viêm giác mạc gây loét, sẹo giác mạc, viêm thần kinh thị giác, viêm mống mắt thể mi ở bệnh nhân zona mắt Viêm phổi nặng do virus.
Viêm não, màng não rất ít gặp, thường xảy ra ở cuối thời kỳ bệnh [62], [69]. Điều trị nội khoa bệnh zona 1. Điều trị tại chỗ • Phù hợp với giai đoạn bệnh: giai đoạn cấp tính dùng hồ nước, dung dịch xanh methylen 1%, dung dịch castellanin, kem acyclovir. • Giai đoạn đóng vảy tiết bôi mỡ acyclovir, mỡ kháng sinh nếu cần.
• Giai đoạn thương tổn da đã lành sẹo nhưng vẫn còn đau dai dẳng bôi kem Emla, kem Capsaicin, lidocain gel. Điều trị toàn thân - Thuốc kháng virus • Acyclovir 800mg x 5 viên/ngày x 7 ngày, cách 4h uống 1 viên. Thuốc có tác dụng rút ngắn thời gian bài xuất virus, ngừng hình thành tổn thương mới, rút ngắn thời gian liền sẹo và làm giảm mức độ đau. • Famcyclovir 500mg x 3 viên/ ngày x 7 ngày, cách 4h uống 1 viên.