Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu tuyến giáp, tuyến cận giáp 1. Giải phẫu tuyến giáp 1. Đại cương Tuyến giáp là một tuyến nội tiết, nằm ở phần trước của cổ, phía trước các vòng sụn khí quản đầu tiên và hai bên thanh quản, ngang mức các đốt sống cổ 5,6,7 và ngực 1.
Tuyến mang nhiều mạch máu, có màu nâu đỏ, nặng khoảng 25g. Tuyến có hình dạng thay đổi từ hình H đến hình U.1 Tuyến giáp nhìn từ trước (Nguồn: Surgical Anatomy of the Thyroid and Parathyroid Glands (2010) [9]) Các phần của tuyến giáp: Tuyến giáp gồm 2 thuỳ phải và trái được nối với nhau bởi một eo tuyến giáp. + Thuỳ tuyến: Mỗi thuỳ bên tuyến giáp có hình nón, đỉnh hướng lên trên và ra ngoài tới ngang mức đường chếch của sụn giáp. Đáy của thuỳ xuống tới ngang mức vòng sụn khí quản 4 hoặc 5.
Thuỳ tuyến cao 5cm, chỗ rộng nhất đo được khoảng 3cm và dầy 2cm. Thuỳ tuyến giáp có 3 mặt, 2 bờ và 2 cực. - Các mặt: + Mặt ngoài hay mặt nông: lồi được phủ bởi cơ ức giáp, và nông hơn là cơ ức- móng và bụng trên của cơ vai- móng. Thang Long University Library 4 + Mặt trong liên quan tới thanh quản, khí quản, thực quản, cơ khít hầu dưới.
Mặt trong của tuyến còn liên quan tới nhánh ngoài của thần kinh thanh quản trên và với thần kinh thanh quản quặt ngược. + Mặt sau ngoài liên quan với bao mạch cảnh - Các bờ : + Bờ trước liên quan mật thiết với nhánh trước của động mạch giáp trên. + Bờ sau tròn, ở dưới liên quan với động mạch giáp dưới và ngành nối giữa động mạch này với nhánh sau của động mạch giáp trên.ở bờ sau còn có các tuyến cận giáp. - Các cực : + Cực trên hay đỉnh của thuỳ tuyến liên quan với động mạch giáp trên.
+ Cực dưới hay đáy của thuỳ tuyến nằm trên bờ trên cán ức độ 1-2 cm, liên quan với bó mạch giáp dưới. Cực dưới của thuỳ trái còn liên quan tới ống ngực. + Eo tuyến giáp Eo tuyến giáp nằm vắt ngang, nối hai phần dưới của hai thuỳ tuyến, chiều ngang cũng như chiều thẳng đứng đo được khoảng 1,25cm. Từ bờ trên eo thường tách ra một mẩu tuyến chạy lên trên tới xương móng, gọi là thuỳ tháp.
Eo nằm trước vòng sụn khí quản 2 và 3, liên quan ở phía trước, từ sâu ra nông với mạc trước khí quản, cơ ức giáp, cơ giáp- móng, mạc các cơ dưới móng, lá nông của mạc cổ, tĩnh mạch cảnh trước và da. Dọc theo bờ trên của eo tuyến giáp có nhánh nối giữa hai động mạch giáp trên phải và trái ở bờ dưới có tĩnh mạch giáp dưới tách ra khỏi tuyến. Giải phẫu mạch máu và sự liên quan với thần kinh thanh quản Cung cấp máu cho tuyến giáp là từ động mạch giáp trên và giáp dưới. Các động mạch này có những vòng nối dồi dào với cùng bên và bên đối diện.
Động mạch ima bắt nguồn hoặc từ cung động mạch chủ hoặc từ động mạch không tên đi vào tuyến giáp ở bờ dưới của thuỳ eo. * Động mạch giáp trên và thần kinh thanh quản trên: Động mạch giáp trên là nhánh trước đầu tiên của động mạch cảnh ngoài. Rất hiếm gặp sinh ra từ động mạch cảnh chung ngay chỗ chia đôi. Động mạch giáp trên đi xuống ở mặt bên thanh quản bị cơ vai móng và cơ giáp móng phủ lên.
Động mạch đi nông ở bờ trước của thuỳ bên cho một nhánh sâu vào trong tuyến, rồi chạy vòng về phía eo và nối với động mạch đối bên. 5 * Động mạch giáp dưới và thần kinh thanh quản quặt ngược. Động mạch giáp dưới sinh ra từ thân giáp cổ, một nhánh của động mạch dưới đòn, chạy thẳng lên rồi chạy cong vào giữa vào khe khí- thực quản trong cùng một lớp với bao cảnh. Hầu hết các nhánh của nó xuyên vào mặt sau của thuỳ bên.
Động mạch giáp dưới có kiểu phân nhánh thay đổi và được kết hợp chặt chẽ với thần kinh thanh quản quặt ngược.Thần kinh này cũng đi xuống nằm trong khe khi- thực quản và đổ vào thanh quản ở chỗ sừng dưới của sụn giáp. Thần kinh thanh quản quặt ngược nằm ở trong một tam giác được giớ hạn bởi mặt trong là động mạch cảnh chung, giữa là khí quản và mặt trên là thuỳ tuyến giáp. * Tĩnh mạch: Các tĩnh mạch của tuyến giáp tạo nên các đám rối ở trên mặt tuyến và phía trước khí quản, các đám rối này đổ vào các tĩnh mạch giáp trên, giáp dưới và thường khi cả tĩnh mạch giáp giữa. Chỉ có tĩnh mạch giáp trên đi theo động mạch cùng tên.
Tĩnh mạch giáp giữa từ mặt bên của tuyến, gần cực dưới, chạy ngang ra ngoài, đổ vào tĩnh mạch cảch trong. Còn tĩnh mạch giáp dưới đi xuống ở trước khí quản và đổ vào các tĩnh mạch cánh tay đầu phải và trái. Giải phẫu tuyến cận giáp Là những tuyến nội tiết nhỏ dẹt, hình bầu dục, màu vàng nâu, nằm ở bờ sau của thuỳ tuyến giáp và trong bao tuyến. Kích thước trung bình: dài 6mm, rộng 3- 4mm và dày khoảng 1-2mm, nặng chừng 50mg.
Có từ 2 - 6 tuyến, thường là 4 tuyến, mỗi bên 2, một trên và một dưới. Sự tiếp nối giữa hai động mạch giáp trên và giáp dưới nằm dọc theo bờ sau thuỳ bên tuyến giáp có liên quan mật thiết với các tuyến cận giáp, và là mốc để tìm tuyến cận giáp.2 Vị trí của các tuyến cận giáp và dây thanh quản (nhìn nghiêng) (Nguồn: Atlas giải phẫu người của Frank H. Netter- NXB Y học- 1996)[7] Thang Long University Library 6 - Vị trí: + Tuyến cận giáp dưới: có vị trí thay đổi. + Tuyến cận giáp trên: Thường có hơn tuyến cận giáp dưới, nằm ở điểm giữa bờ sau của thuỳ bên tuyến giáp hoặc ở cao hơn một chút.
+ Có thể nằm trong bao tuyến giáp, dưới động mạch giáp dưới, trên cực dưới của thuỳ tuyến giáp khoảng 1,5cm. + Ở sau ngoài bao tuyến giáp, ngay trên động mạch giáp dưới. + Ở bên trong nhu mô, gần đầu dưới của bờ sau thuỳ tuyến giáp. - Mạch máu tuyến cận giáp: Các tuyến cận giáp được cấp huyết bởi các nhánh nhỏ của động mạch giáp dưới hoặc trên, hoặc các nhánh từ vòng nối giữa hai động mạch giáp trên và dưới [8].
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán 1. Tiền sử và triệu chứng cơ năng - Cần khai thác kĩ về tiền sử chiếu xạ vùng đầu cổ của bệnh nhân khi còn nhỏ, các bệnh lý kèm theo và gia đình để loại trừ các yếu tố nguy cơ bệnh ác tính. - Đa số bệnh nhân đến khám vì phát hiện có khối vùng cổ. - Triệu chứng đau thường do chảy máu trong nang tuyến giáp gây ra.
- Một khối mềm phát triển nhanh, tồn tại ngắn ngày rồi mất hoặc giảm nhanh thường gợi ý một tổn thương viêm, khối u chảy máu, hoại tử hoặc nang. Các triệu chứng do chèn ép có thể gặp như: - Cảm giác đầy, tức nặng vùng cổ, nuốt vướng, nuốt nghẹn do tuyến giáp to đè lên thực quản. - Khàn tiếng do u chèn ép thần kinh thanh quản quặt ngược. - Khó thở do chèn ép khí quản.
Các triệu chứng do rối loạn chức năng tuyến giáp: - Hội chứng cường giáp: lo lắng, kích thích, dễ cáu gắt, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, vã mồ hôi, sụt cân, tiêu chảy, yếu cơ, run chân tay, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn khả năng hoạt động tình dục. - Hội chứng suy giáp: mệt mỏi, trì độn, rối loạn trí nhớ, táo bón, sợ lạnh, tăng cân, da lạnh và khô, tóc giòn dễ gãy, chuột rút, đau đầu, phản xạ gân xương kéo dài, phù nề ở mặt và mi mắt, lưỡi dài và dày, nói khó với giọng đầy lưỡi, mạch chậm, điện tâm đồ có điện thế và sóng T thấp. Triệu chứng thực thể Khi khám cần đánh giá số lượng, vị trí, mật độ, kích thước, bề mặt và sự di động của khối tuyến giáp, sự có mặt của các khối khác ở vùng cổ. U lành tính thường mềm, di động theo nhịp nuốt và theo nhịp tay đẩy, ấn không đau.
Các u tuyến giáp có kích thước lớn hơn 1cm đường kính có thể sờ nắn được, các u tuyến giáp đường kính dưới 1cm, các u ở sâu trong nhu mô hoặc ở mặt sau của tuyến thì khó sờ nắn hơn, thường bị bỏ sót và chỉ được phát hiện trên siêu âm [35]. Xác định độ to của u tuyến giáp trên lâm sàng theo phân loại của tổ chức y tế thế giới năm 2014 [5].1 Phân loại độ to của u tuyến giáp trên lâm sàng. Độ Đặc điểm 0 U giáp không nhìn thấy và không sờ thấy I U giáp sờ thấy nhưng không nhìn thấy khi cổ ở tư thế bình thường II U giáp nhìn thấy rõ ràng khi cổ ở tư thế bình thường Ngoài thăm khám vùng cổ và tuyến giáp còn cần phải khám các triệu chứng toàn thân biểu hiện của tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp, hoạt động của hai dây thanh, bệnh lý toàn thân [17]. Hạch cổ: u giáp lành tính thường không có hạch trên lâm sàng.
Nếu phát hiện hạch cổ khi thăm khám phải đánh giá vị trí, mật độ, ranh giới và sự di động so với xung quanh. Hạch có thể xuất hiện do viêm nhiễm kèm theo hoặc bệnh ác tính. Siêu âm tuyến giáp Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh không độc hại, dễ thực hiện và có giá trị chẩn đoán cao. Đặc biệt trong khảo sát tuyến giáp, siêu âm tuyến giáp được đưa vào trong hầu hết các hướng dẫn điều trị của các hiệp hội hiện nay với bệnh lý u giáp, là một khâu quan trọng trong quản lý u tuyến giáp.
Giá trị của siêu âm tuyến giáp trong u tuyến giáp: - Siêu âm giúp xác định một khối sờ thấy trên lâm sàng có thực sự là u hay không. Có khoảng 15% khối sờ được khi thăm khám không phải là u thực sự khi siêu âm. - Siêu âm phát hiện được những u mà thăm khám sờ nắn không phát hiện được. Siêu âm cũng sẽ giúp hướng dẫn để làm FNA trong những trường hợp này khi có chỉ định.
Thang Long University Library 8 - Siêu âm sẽ mô tả các đặc điểm hình ảnh của u, kết hợp với tiêu chuẩn về kích thước u để đưa ra chỉ định FNA [20]. Để thống nhất và chuẩn hóa khi siêu âm tuyến giáp, các tác giả dựa trên hệ thống phân loại TIRADS để mô tả các tính chất của u giáp và căn cứ vào các tiêu chí được đưa ra từ phân loại này để xếp độ TIRADS cho khối u giáp, độ càng cao nguy cơ ung thư càng cao.