CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về bệnh ung thư dạ dày 1. Giải phẫu và sinh lý dạ dày bình thường Hình thể ngoài của dạ dày Dạ dày (DD) là một túi cơ có hình giống chữ J. Là đoạn lớn thứ 2 của đường tiêu hóa, nằm trong phúc mạc, kéo dài từ tận cùng thấp của thực quản ngang đốt sống ngực 11 và bắt chéo tới phần phải của đường giữa để kết thúc ở tá tràng ngang phần phải của đốt sống thắt lưng thứ nhất.
Chỗ nối của thực quản với DD được gọi là tâm vị và chỗ nối giữa DD với ruột được gọi là môn vị. DD có 2 bờ cong lớn và bé, bờ cong lớn di động tự do hơn bờ cong bé, có thể kéo dài tới khung chậu [20], [31]. Cấu tạo của dạ dày DD bao gồm 5 lớp từ ngoài vào trong: Lớp thanh mạc; lớp dưới thanh mạc; lớp cơ (bao gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài); lớp dưới niêm mạc; lớp niêm mạc. Tất cả các cấu trúc này đều nằm trên một tấm nền phẳng đó là lớp niêm mạc [29].
Sinh lý của dạ dày DD là một túi chứa thức ăn. Tại đây thức ăn chủ yếu được xử lý về mặt cơ học (được nhào trộn với dịch vị) biến thành thứ hồ đặc gọi là vị trấp và được tống qua môn vị từng đợt xuống tá tràng. Trong đó có một số chất được phân giải bước đầu. Thông qua các chức năng: chức năng vận động, chức năng bài tiết, chức năng tiêu hoá [25].
Vị trí và phân loại ung thư dạ dày. Ung thư dạ dày (UTDD) có thể gặp bất cứ vị trí nào của dạ dày, nhưng hay gặp nhất là vùng hang môn vị, thứ hai là vùng bờ cong nhỏ (chủ yếu ở phần đứng), sau đó là tâm vị và ít gặp hơn ở bờ cong lớn, đáy DD và mặt trước, mặt sau [1], [67]. Có rất nhiều cách phân loại giai đoạn UTDD khác nhau [37], [91]. Dựa theo phân loại UTDD của Hệ thống TNM của Ủy ban phòng chống ung thư thế giới (UICC) lần thứ 7 năm 2009 [69] như sau: 4 Bảng 1.1: Phân loại giai đoạn theo TNM của UICC (2009) Giai đoạn bệnh Mức độ TNM của UICC (2009) Giai đoạn 0 Tis N0 M0 Giai đoạn IA T1 N0 M0 Giai đoạn IB (T2 N0 M0); (T1 N1 M0) Giai đoạn IIA (T3 N0 M0); (T2 N1 M0); (T1 N2 M0).
Giai đoạn II B (T4a N0 M0); (T3 N1 M0); (T2 N2 M0); (T1 N3 M0) Giai đoạn IIIA (T4a N1 M0); (T3 N2 M0); (T2 N3M0) Giai đoạn IIIB (T4b N0,N1 M0); (T4a N2 M0); (T3 N3 M0) Giai đoạn IIIC (T4a N3 M0); (T4b N2,N3 M0) Giai đoạn IV Bất kỳ T Bất kỳ N M1 1. Các phương pháp phẫu thuật UTDD Phẫu thuật điều trị triệt căn: Tùy vào vị trí của khối ung thư mà có các phương pháp phẫu thuật khác nhau: cắt niêm mạc dạ dày qua nội soi, cắt bán phần dạ dày, Cắt 3/4 dạ dày, nạo vét hạch, cắt toàn bộ dạ dày [38], [19], cắt gần toàn bộ và cắt toàn bộ dạ dày mở rộng [28]. Phẫu thuật điều trị triệu chứng: Là biện pháp hữu hiệu để điều trị chống đau và chăm sóc triệu chứng cho người bệnh UTDD. Một số khái niệm về chất lượng cuộc sống 1.
Khái niệm chất lượng cuộc sống Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa CLCS: “Sự hiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị mà họ thuộc về; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ” [95]. Thuật ngữ chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ đa chiều, do vậy việc phân tích các chỉ số đo lường chất lượng cuộc sống được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nghiên cứu với nhiều tiêu chí khác nhau. 5 Vào năm 1073, tác giả Abrams cho rằng CLCS là mức độ không hài lòng hoặc hài lòng được cảm nhận bởi con người ở các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống của họ [39]. Theo quan điểm của tác giả Andrew, năm 1974 thì CLCS là mức độ niềm vui và sự hài lòng đặc trưng được tồn tại bởi con người [65].
Năm 1985, Ferrans và Power định nghĩa: CLCS là nhận thức hay cảm giác hạnh phúc được bắt nguồn từ sự hài lòng hoặc không hài lòng của con người với các lĩnh vực cuộc sống quan trọng đối với họ. Mô hình này bao gồm 4 lĩnh vực: sức khỏe, chức năng, tâm lý/ tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình [49], [81]. CLCS đại diện cho một loạt trải nghiệm của con người bao gồm nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như cộng đồng, giáo dục, cuộc sống gia đình, tình bạn, sức khỏe, nhà ở, hôn nhân, quốc gia, khu vực, bản thân, mức sống, và làm việc [51], [78]. Mặc dù có nhiều định nghĩa nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về chất lượng cuộc sống [75].
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ (Health related quality of life – HRQOL) Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ là một phần của chất lượng cuộc sống, phản ánh sự ảnh hưởng của tình trạng bệnh tật và các liệu pháp điều trị lên người bệnh, do chính họ cảm nhận. Từ khoảng những năm 1980, có sự xuất hiện nhiều các nghiên cứu về sức khoẻ đề cập đến khái nhiệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ. Trong các nghiên cứu về sức khoẻ, khái niệm chất lượng cuộc sống được sử dụng tương đương với khái niệm CLCS liên quan đến sức khoẻ [83]. CLCS liên quan đến sức khoẻ chỉ bao gồm các khía cạnh của cuộc sống có ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ (cả về thể chất, tinh thần và các chức năng xã hội khác).
Mục đích của sử dụng và đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ nhằm đưa ra các đánh giá tổng quát về lợi ích cũng như nguy cơ của một can thiệp y tế, hoặc nhằm đánh giá một cách toàn diện và cụ thể hơn về sức khoẻ của một cá nhân hoặc một quần thể nhất định [75]. Hai khái niệm này vẫn thường được sử dụng thay thế cho nhau. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống của người bệnh ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác trong đời sống xã hội. Trong lĩnh vực y tế, khía cạnh quan trọng nhất của chất lượng cuộc sống hay còn gọi là CLCS liên quan đến sức khỏe là tình trạng sức khỏe bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần.
CLCS liên quan đến sức khỏe mô tả những gì người bệnh đã trải nghiệm như là kết quả của việc chăm sóc y tế, giúp đánh giá sự khác biệt giữa những gì dự kiến và thực tế điều trị [60]. Thông thường, chất lượng cuộc sống người trưởng thành được nghiên cứu đánh giá ở các khía cạnh về thể chất (như sự thoải mái trong đi lại, thực hiện các hoạt động hàng ngày, không chịu các đau đớn thể xác) cũng như khía cạnh về tinh thần (không phải chịu những lo lắng, suy nghĩ về tinh thần). Theo đó, các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống bao gồm những nhóm yếu tố liên quan như: a. Nhóm yếu tố về môi trường, văn hoá, xã hội Yếu tố môi trường được xem là có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người dân.
Theo nghiên cứu của Zimmermann tại Brazil năm 2017 cho thấy những người sống ở các khu vực ngoại thành, những người thuộc tầng lớp kinh tế thấp và những người không có việc làm chính thức có liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp [103]. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình độ học vấn có liên quan đến chất lượng cuộc sống [101], [76]. Nhóm yếu tố kinh tế Tình trạng kinh tế tác động không nhỏ đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người bệnh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người bệnh có mức thu nhập cao hơn, hay mức sống cao hơn thì có tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống [5], [103].
Trong bối cảnh hệ thống y tế và phương thức chi trả, yếu tố kinh tế cũng có thể là việc sở hữu bảo hiểm y tế. Với các người bệnh được bảo hiểm thanh toán, chất lượng cuộc sống thường báo cáo kết quả tốt hơn so với nhóm không có bảo hiểm y tế [76]. Nhóm yếu tố cá nhân đối tượng Các đặc điểm cá nhân đối tượng cũng là yếu tố có tác động đến chất lượng cuộc sống. Nữ giới, trong một số nghiên cứu cho thấy có chất lượng cuộc sống thấp hơn so với nam giới [5], [76].
Chỉ số khối cơ thể (BMI) cũng có liên quan đến chất lượng cuộc sống theo nhóm tác giả nghiên cứu tại Iran. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm người dân có BMI < 26 thì thường có tỷ lệ chất lượng cuộc sống cao hơn các nhóm còn lại [76]. Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống phụ thuộc trực tiếp vào tình trạng sức khoẻ của đối tượng được đo lường. Điều đó cũng có nghĩa là các nhóm đối tượng có mắc các bệnh khác nhau thì có sự khác nhau về chất lượng cuộc sống.
Nghiên cứu đo lường chất lượng cuộc sống của người dân nói chung tại cộng đồng tại Brazil cho thấy người được phỏng vấn có mắc các bệnh lý như trầm cảm, tiểu đường, tăng huyết áp có liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp [103]. Nghiên cứu gần đây tại Trung Quốc cho thấy những người mắc đột quỵ có liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp hơn 2,17 lần so với những người bình thường. Tương tự, với mỗi mức độ tăng lên của bệnh trầm cảm, người bệnh sẽ có nguy cơ giảm đi 5,62 lần trong tổng điểm về chất lượng cuộc sống [5]. Đó là lý do vì sao hiện nay có nhiều bộ công cụ đặc thù nhằm đo lường chất lượng cuộc sống đối với người bệnh mắc từng bệnh lý cụ thể.
Nhóm yếu tố về gia đình Theo nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2017 cho thấy những người sống độc thân hoặc goá có chất lượng cuộc sống thấp hơn so với những người kết hôn hoặc đang sống cùng bạn tình [5]. Đối với người bệnh, mối quan hệ, sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè đối với người bệnh trong quá trình điều trị là cực kỳ quan trọng. Gia đình, bạn bè, và những người xung quanh là những yếu tố tác động tích cực đến người bệnh nếu cư xử đúng mực, tích cực giải quyết những vướng mắc tồn tại, sẽ cải thiện được chất lượng cuộc sống [56]. Chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh ung thư dạ dày sau phẫu thuật 1.