ĐẶT VẤN ĐỀ Mang thai và sinh nở là giai đoạn chứa đựng nhiều nguy cơ về sức khỏe, bệnh tật và tàn phế, là nguyên nhân gây ra ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Theo ƣớc tính của Tổ chức y tế thế giới, trung bình mỗi ngày trên thế giới có 1500 phụ nữ bị tử vong với tổng số gần 10 triệu ca tử vong liên quan đến thai nghén và sinh nở từ 1990-2009. Mỗi năm trên thế giới cũng có ít nhất 7 triệu phụ nữ sống sót sau sinh phải đối mặt với những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và hơn 50 triệu phụ nữ phải gánh chịu những hậu quả có hại cho sức khỏe sau khi sinh [61]. Bệnh tật và tử vong mẹ cũng là nguy cơ bệnh tật và tử vong của trẻ.
Hàng năm, có khoảng 8 triệu trẻ em chết trong năm đầu. Trong đó, gần 40% trƣờng hợp tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi là xảy ra trong khoảng thời gian 28 ngày đầu sau khi sinh, với ¾ là tử vong vào khoảng thời gian 7 ngày đầu sau sinh [18]. Ở Việt Nam, tỷ lệ tử vọng mẹ và tử vong sơ sinh đã có sự cải thiện rõ rệt trong những năm qua. Tỷ lệ tử vong mẹ đã giảm từ 137/100.000 trẻ đẻ sống năm 1995 xuống còn 67/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2011 [5].
Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã giảm một nửa từ 44,4 trên 1.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 14 trên 1. Mặc dù có những thành tựu nhƣ vậy nhƣng đáng chú ý là tình trạng chênh lệch ngày càng gia tăng, có sự khác biệt đáng kể liên quan đến tử vong mẹ và tử vong trẻ giữa các vùng miền, dân tộc, nơi cƣ trú, thu nhập của hộ gia đình cũng nhƣ trình độ học vấn của mẹ. Tỷ suất tử vong mẹ còn cao ở khu vực miền núi và đồng bào dân tộc. Tỷ suất tử vong ở trẻ em đối với các dân tộc thiểu số từ năm 2006 đến năm 2011 đã tăng lên và vẫn cao gấp 3,5 lần so với tỷ lệ đó của dân tộc Kinh [4].
Mặt khác, mặc dù đã đạt đƣợc những tiến bộ đáng kể, nhƣng phần lớn số trẻ tử vong dƣới 1 tuổi vẫn xảy ra ở tháng đầu tiên, chiếm gần 70% các ca tử vong ở trẻ dƣới 1 tuổi và 52% các ca tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi (JAHR 2010). Tỷ lệ tử vong ở các khu vực nông thôn miền núi cao gấp 2 đến 2,5 lần tỷ lệ đó ở các khu vực nông thôn đồng bằng và thành thị [15]. Do đó, vẫn cần rất nhiều nỗ lực để nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em, đặc biệt là ở các khu vực kinh tế khó khăn, khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số. 2 Duyên Hải Nam Trung Bộ là khu vực ven biển kéo dài từ Đà Nẵng đến Bình Thuận bao gồm 8 tỉnh.
Đây là khu vực có địa hình đa dạng với bờ biển dài, hải đảo, đồng bằng và miền núi.Đây cũng là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Đây cũng là khu vực có điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhất trong cả nƣớc. Hàng năm, vùng thƣờng xảy ra nhiều thiên tai nhƣ bão, lũ, gió Lào, hạn hán, điều kiện sống cũng nhƣ kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Theo niên giám thống kê 2011, vùng duyên hải miền trung có tỷ lệ hộ nghèo đứng thứ hai trong cả nƣớc (20,3%) với thu nhập bình quân đầu ngƣời chỉ khoảng trên 1 triệu đồng/tháng.
Phong tục tập quán của ngƣời dân nơi đây còn lạc hậu và đội ngũ cán bộ y tế tuyến cơ sở còn yếu. Chính vì thế, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em ở khu vực này nói riêng và khu vực miền biển nói chung cũng đƣợc Đảng và Nhà Nƣớc quan tâm. Năm 2013 dự án: “Nghiên cứu các yếu tố liên quan ảnh hưởng tới thúc đẩy bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản và đề xuất các giải pháp tăng cường bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ” đƣợc Bộ Y tế phối hợp với Trƣờng Đại học Y tế công cộng triển khai với mục tiêu tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS, trong đó tập trung vào 5 vấn đề chính bao gồm: làm mẹ an toàn (LMAT), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), tỷ số giới tính khi sinh, tƣ vấn xét nghiệm tự nguyện HIV/AIDS, và bạo lực gia đình (BLGĐ). Nhằm tìm hiểu thực trạng và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc khi mang thai, sinh đẻ nhằm đƣa ra những khuyến nghị để nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em ở khu vực này, luận án này sử dụng một phần số liệu về Làm mẹ an toàn trích xuất từ bộ số liệu của dự án để tìm hiểu về:“Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới một tuổi tại 8 tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ năm 2013”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dƣới 1 tuổi tại 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, năm 2013. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dƣới 1 tuổi tại 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, năm 2013. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Thực trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh 1. Tình hình tử vong mẹ trên Thế giới và Việt Nam Mang thai và sinh nở là giai đoạn chứa đựng nhiều nguy cơ về sức khỏe, bệnh tật và tàn phế, là nguyên nhân gây ra ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [18]. Theo ƣớc tính của WHO, mỗi ngày có tới 1500 phụ nữ bị tử vong do các biến chứng trong lúc mang thai và khi sinh. Kể từ 1990 đến 2009, số ca tử vong ở bà mẹ mỗi năm trên toàn thế giới ƣớc tính trên 500.000 với tổng số gần 10 triệu ca tử vong trong vòng 19 năm [18].
Trên thế giới, tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau theo từng vùng. Theo WHO và UNICEF, nguy cơ tử vong mẹ cao nhất ở Châu Phi là 1/16, ở Châu Á là 1/65, ở Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribe là 1/130, ở Châu Âu là 1/1400 và ở Bắc Mỹ là 1/3700. Sự khác biệt ở cấp Quốc gia càng sâu sắc hơn. Theo các số liệu của năm 2005, WHO ƣớc tính trung bình nguy cơ tử vong do những biến chứng trong lúc mang thai và khi sinh trong đời ngƣời phụ nữ ở các nƣớc kém phát triển nhất lớn hơn gấp 300 lần so với phụ nữ ở các nƣớc công nghiệp hóa.
Một số nƣớc nhƣ Ethiopia, tỷ lệ tử vong mẹ là 1/9 trong khi ở Thụy sỹ- tỷ lệ này là 1/8700. Tại châu Á, một số nƣớc nhƣ Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore có tỷ lệ tử vong mẹ rất thấp từ 7-10/100.000 trẻ đẻ sống, xếp ngang hàng với các nƣớc có tỷ lệ thấp nhất ở Châu Âu, trong khi đó tỷ lệ này ở một số quốc gia khác trong khu vực thuộc hàng cao nhất thế giới nhƣ Bangladesh (850/100. Ở Việt Nam, theo các số liệu điều tra,tỷ số tử vong mẹ trong những năm gần đây đã giảm mạnh, từ mức 165/100.000 trẻ đẻ sống năm 2001-2002 [4] xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sống năm vào năm 2009 [26, [3, [6, [13] và 67/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2011 [5]. Tuy nhiên, các kết quả điều tra vẫn cho thấy tỷ số tử vong mẹ có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng miền.
Kết quả điều tra tử vong mẹ ở Việt Nam giai đoạn 2006-2007 do Viện Chiến lƣợc và Chính sách y tế thuộc Bộ Y tế thực hiện cho thấy tỷ số tử vong mẹ ở khu vực miền núi (108/100.000 trẻ đẻ sống) vẫn cao hơn khoảng 3 lần so với vùng đồng bằng (36/100. 5 Tƣơng tự, một cuộc điều tra tử vong mẹ tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cho thấy, tỷ số tử vong mẹ là 119/100.000 trẻ đẻ sống, cao gần gấp hai lần so với toàn quốc, trong đó cao nhất là vùng Tây Bắc (242/100.000 trẻ đẻ sống), tiếp đến là Tây Nguyên (108/100.000 trẻ đẻ sống) và Đông Bắc (86/100. Các nghiên cứu trên cũng cho thấy nguyên nhân trực tiếp (là những bệnh tật hoặc biến chứng chỉ xảy ra khi mang thai và sinh đẻ) gây 70%-80% số ca tử vong mẹ. Trong đó, các tai biến sản khoa vẫn là nguyên nhân hàng đầu: băng huyết (34,7%-43,4%); sản giật (10.
Về các yếu tố liên quan đến tử vong mẹ ở Việt Nam, sinh đẻ tại nhà và trên đƣờng đến cơ sở y tế là yếu tố chiếm tới 40% tổng số ca tử vong mẹ; tỷ lệ này đặc biệt cao ở các tỉnh miền núi. Tỷ số tử vong mẹ ở những ngƣời đẻ tại nhà cao gấp trên 5 lần so với đẻ tại cơ sở y tế (156,1 và 31,9/100.000 trẻ sơ sinh sống); tỷ số tử vong mẹ ở phụ nữ ngƣời dân tộc thiểu số cũng cao gấp gần 3 lần so với phụ nữ ngƣời dân tộc Kinh (107,1 so với 39,2/100.000 trẻ sơ sinh sống); những phụ nữ sinh con lần thứ 3 trở lên có tỷ số tử cong mẹ cao gấp 5,6 lần so với phụ nữ sinh con lần thứ hai trở xuống (283,3 so với 51,8/100.000 sơ sinh sống); ngoài ra tỷ số tử vong bà mẹ ở những phụ nữ mù chữ hoặc chỉ biết đọc, biết viết cũng cao gấp gần 2,5 lần so với phụ nữ có trình độ tiểu học (298,5 và 118. Tình hình tử vong trẻ sơ sinh trên Thế giới và Việt Nam Hàng năm, trên thế giới có khoảng 8 triệu trẻ em chết trong năm đầu.7 triệu trẻ em chiếm gần 40% trƣờng hợp tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi là xảy ra trong khoảng thời gian 28 ngày đầu sau khi sinh, trong đó ¾ là tử vong vào khoảng thời gian 7 ngày đầu. Nguy cơ tử vong cao nhất là vào ngày đầu tiên sau sinh.
Chênh lệch về tử vong ở trẻ sơ sinh cũng rất rõ rệt, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao nhất ở khu vực Châu Phi và Châu Á. Ở phạm vi Quốc gia, khả năng tử vong trong vòng 28 ngày tuổi của một đứa trẻ sinh ra ở một nƣớc kém phát triển nhất cao gấp 14 lần so với một đứa trẻ sinh ra ở một nƣớc công nghiệp hóa.