CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế Hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về chất lượng DVYT. Một số định nghĩa thường được dùng và có tính khái quát như sau: CLDV y tế bao gồm hai thành phần riêng biệt là chất lượng vận hành, tức là cách thức NB nhận được dịch vụ (chất lượng đồ ăn, tiếp cận với các dịch vụ) và chất lượng chuyên môn, nghĩa là chất lượng cung ứng dịch vụ KCB (năng lực của NVYT và KQ điều trị) (14). CLDV khám chữa bệnh bao gồm ứng dụng khoa học và kỹ thuật y học bằng cách thức nào đó để đạt tối đa hóa lợi ích về sức khỏe nhưng không làm tăng các rủi ro tương ứng do ứng dụng các kỹ thuật.
Vì vậy, chất lượng KCB chính là tỷ lệ mà DVYT được kỳ vọng sẽ đem lại sự cân bằng mong muốn nhất giữa rủi ro và lợi ích (15). CLDV khám chữa bệnh là tỷ lệ theo các DVYT giữa cá nhân và cộng đồng sử dụng làm KQ mong muốn và phù hợp với kiến thức chuyên môn (16). CLDV khám chữa bệnh là hình thức tổ chức cho các nguồn lực hoạt động một cách hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu CSSK của những người có nhu cầu, nhằm phòng bệnh và CSSK, an toàn, tránh gây lãng phí, đáp ứng được các yêu cầu cao (17). CLDV y tế là tỷ lệ đạt được mục tiêu của một hệ thống nhằm CSSK và đáp ứng được sự kỳ vọng của người dân.
Khái niệm về chất lượng, Ovretveit đưa ra nhằm xây dựng KH về chất lượng DVYT. Khái niệm chất lượng bao gồm ba cấu phần để hình thành bao gồm chất lượng chuyên môn, chất lượng cung ứng nhu cầu NB và chất lượng quản lý (18). Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) có 6 khía cạnh của CLDV y tế liên quan trực tiếp tới việc nâng cao và cải thiện chất lượng y tế. Các khía cạnh đó bao gồm: An toàn: Cung ứng DVYT tốt nhất để giảm rủi ro hay gây nguy hại cho người sử dụng dịch vụ này.
4 Hiệu quả: Dựa vào nhu cầu của cá nhân và cộng đồng, cung cấp DVYT cần dựa vào bằng chứng cụ thể và mang đến kết quả tốt cho người sử dụng. NB là trung tâm: Dựa vào văn hóa, sở thích, kỳ vọng của người có nhu cầu sử dụng DVYT. Lấy NB làm trung tâm thể hiện qua việc công bố thông tin về CLDV để cho NB làm căn cứ chọn lựa CSYT. NB phải được tham gia vào quá trình thực hiện và đánh giá DVYT.
Bên cạnh đó, CSYT cần giám sát, thu thập và đo lường thông tin, trải nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng dịch vụ từ phía NB. Người sử dụng DVYT chính là đối tượng đích của các CSYT. Kịp thời, khả năng tiếp cận: Các DVYT cần được cung cấp nhanh chóng và kịp thời, phù hợp về đặc điểm địa lý, CSVC và nguồn lực NVYT. Hiệu suất: Sử dụng nguồn lực có hiệu quả tối ưu và tránh lãng phí trong việc cung cấp DVYT.
Công bằng: Không có sự khác biệt về chất lượng cung cấp DVYT. Không phân biệt các đặc điểm cá nhân như dân tộc, chủng tộc, giới, địa lý hoặc tình trạng kinh tế (19). Khái niệm sự hài lòng Mặc dù có nhiều NC về sự hài lòng NB nhưng vẫn chưa có định nghĩa thống nhất. Năm 1988, Donabedian cho rằng sự hài lòng của NB là kết quả mong muốn của NB đối với một hoạt động chăm sóc của y tế.
Thể hiện qua quan điểm và các khía cạnh của NB và tất cả các hoạt động của NVYT tại BV (15). Năm 1992, Brown cho rằng hài lòng là một trạng thái, trong đó những gì khách hàng cần, muốn, và mong đợi ở sản phẩm và gói dịch vụ được thoả mãn hay vượt quá sự mong đợi (20). Zeithaml và Bitner cho rằng sự hài lòng của NB là sự đánh giá của NB về một sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi (21). Keller và Armstrong, sự hài lòng là trạng thái tâm lý mà NB cảm nhận về một dịch vụ, cơ sở KCB khi những kỳ vọng của họ được thoả mãn hoặc thoả mãn vượt qua sự mong đợi thông qua KCB hoặc dịch vụ khác,là mức độ của trạng thái cảm xúc bắt 5 nguồn từ việc so sánh giữa nhận thức về sản phẩm, dịch vụ với mong đợi của NB khi sử dụng dịch vụ.
Nếu sản phẩm không đạt được mong đợi thì NB không hài lòng. Khi sản phẩm vượt quá mong đợi, NB hài lòng với dịch vụ (22,23). Như vậy, sự hài lòng là một trạng thái đáp ứng của NB khi nhu cầu của NB được đáp ứng đạt mức mong muốn hoặc trên mức mong muốn. Nội soi tiêu hóa Nội soi là một cách nhìn vào bên trong cơ thể bằng cách sử dụng một ống mềm có gắn một camera nhỏ và đèn chiếu sáng ở đầu của nó.
Dụng cụ này được gọi là ống nội soi. Các dụng cụ nhỏ có thể được đưa vào qua ống nội soi và được sử dụng để: Quan sát kỹ hơn một vùng bên trong cơ thể. Lấy mẫu các mô bất thường. Điều trị một số bệnh.
Loại bỏ khối u. Loại bỏ các dị vật (chẳng hạn như thức ăn mắc kẹt trong thực quản, ống nối cổ họng với dạ dày). Đối với nội soi đại tràng, để đưa ống nội soi vào và quan sát kỹ đại tràng, BS cần bơm vào một ít hơi vì ruột vốn xẹp. Chính vì vậy NB có thể cảm thấy căng chướng, tức bụng, mót đại tiện, một số NB có thể thấy đau nhẹ, có thể chịu đựng được, tuy nhiên có một số NB nhạy cảm quá mức thường cần thêm thủ thuật vô cảm tiền mê hoặc gây mê tĩnh mạch nhẹ nhàng (8).
Nội soi - tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý về tiêu hóa. Ống tiêu hóa là một cơ quan rất khó chẩn đoán bệnh lý. Các phương pháp hiện đại như siêu âm, chụp cắt lớp điện toán (CT) hay chụp cộng hưởng từ, dù đắt tiền nhưng vẫn không có giá trị trong chẩn đoán bệnh lý ống tiêu hóa (do không cung cấp được thông tin xác thực về bệnh trạng). 6 Chụp X-quang dạ dày, đại tràng bằng thuốc cản quang có thể dùng trong một số trường hợp nhưng vẫn không chính xác bằng nội soi, nếu kết quả bất thường NB vẫn cần được nội soi để xác định chẩn đoán và điều trị.
Do vậy, nội soi là tiêu chuẩn vàng trong thăm khám, đánh giá, điều trị các bệnh lý tiêu hoá và các nghiên cứu khoa học của y học. Qua nội soi, bác sĩ có thể phát hiện những tổn thương rất nhỏ, chỉ vài milimet, có thể sinh thiết tìm tế bào ung thư, lấy mẫu mô chẩn đoán vi trùng trong dạ dày (H.pylori), khi soi đại tràng thì BS có thể cắt polyp để phòng ngừa ung thư đại tràng. Đối với các trường hợp đang xuất huyết, nội soi có thể được thực hiện để cấp cứu cầm máu để tránh cuộc mổ cho NB. Phương pháp nội soi không đau là phương pháp nội soi kỹ thuật cao, tân tiến nhất hiện nay, phương pháp này đã khắc phục được những nhược điểm mà nội soi thông thường không thực hiện được.
Nội soi gây mê giúp làm mất cảm giác đau, cảm giác lo lắng của NB. Hơn nữa trong nội soi gây mê, NB nằm yên tĩnh, không bị kích thích, giúp quá trình soi và làm thủ thuật được thuận lợi, áp dụng được nhiều kỹ thuật cần độ chính xác cao như: Cắt polyp, cắt hớt niêm mạc, tiêm cầm máu. Thắt tĩnh mạch thực quản trong bệnh lý xuất huyết tiêu hóa. Sinh thiết làm giải phẫu bệnh chẩn đoán ung thư tiêu hóa sớm và làm mô bệnh chẩn đoán vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP) (8).
Đối tượng cần phải thực hiện nội soi tiêu hóa Chỉ định của nội soi tiêu hóa rất rộng rãi, hầu như tất cả các NB nghi ngờ có vấn đề ở đường tiêu hóa đều có thể được chỉ định soi tiêu hóa. Nội Soi dạ dày tá tràng thường được chỉ định trong các trường hợp: - Đau thượng vị, buồn nôn ói sau khi ăn, gọi chung là hội chứng dạ dày tá tràng. - Sụt cân không rõ nguyên nhân. - Ói ra máu, đi cầu phân đen hoặc thiếu máu không rõ nguyên nhân.
- Trào ngược dạ dày thực quản. - Tầm soát ưng thư. 7 - Điều trị các bệnh lý như xuất huyết,giãn tĩnh mạch, cắt polype, ung thư dạ dầy sớm… b. Nội soi đại tràng thường được chỉ định trong trường hợp: - Đau bụng, thay đổi thói quen đi tiêu hằng ngày như bị bón, tiêu chảy kéo dài.
- Sụt cân không rõ nguyên nhân. - Thiếu máu hoặc đi cầu ra máu không rõ nguyên nhân. - Tầm soát ung thư đại tràng ở những NB có gia đình bị ung thư đại tràng hoặc trên 50 tuổi. - Theo dõi bệnh viêm loét đại tràng.
- Chỉ định điều trị can thiệp và theo dõi sau điều trị Lời dặn của bác sĩ đối với NB trước khi thực hiện nội soi a. Đối với Nội soi Thực quản- Dạ dày -Tá tràng - Nội soi Thực quản- Dạ dày-Tá tràng chuẩn bị rất đơn giản, NB chỉ cần nhịn ăn trước khi soi ít nhất 6 giờ, có thể uống nước nhưng là nước trắng và lượng ít. Đối với Nội soi Đại tràng - Nội soi đại tràng cần sự chuẩn bị phức tạp hơn để lòng đại tràng sạch hết phân, khi nội soi bác sĩ mới có thể thấy rõ lòng đại tràng. - NB nên tránh ăn những thức ăn có nhiều chất xơ và rau trong vài ngày, trước khi nội soi.
NB có thể ăn nhẹ vào buổi tối (ít nhất 2 giờ trước khi uống thuốc): ăn cháo, soup. - Uống thuốc làm sạch ruột vào khoảng từ 7 đến 9 giờ tối. Tốt nhất là nên để lạnh thuốc trước khi uống. - Nếu NB dùng Fortran: Pha 3 gói FORTRANS với 3l nước, uống mỗi lần một ly khoảng 200ml , cứ mỗi 10 đến 15 phút một lần cho đến khi uống hết 3l nước thuốc đó.
- Nếu NB dùng Fleet Phosphat Soda, uống 1 chai 45ml lúc 7h chiều sau đó uống thêm 1 lít nước. Sáng hôm sau lúc 6h sáng, uống tiếp 1 chai 45ml và 1lít nước. NB có 8 thể pha loãng chai Fleet với nước trái cây hoặc nước lọc để uống ( 1 chai fleet pha thành 250 ml nước). - Không ăn gì sau khi sử dụng thuốc làm sạch ruột.
NB có thể uống nước trắng khi cần. Uống thuốc điều trị hàng ngày với một lượng nước nhỏ vào buổi sáng ngày làm nội soi. Không uống thuốc tiểu đường. - Mỗi NB có thể đáp ứng với thuốc rửa ruột một cách khác nhau, thông thường sẽ đi- tiêu phân lỏng 10-15 lần.