CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về khám chữa bệnh • Quy trình khám chữa bệnh Theo luật khám chữa bệnh năm 2009, khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp được công nhận (15). Quy trình khám chữa bệnh là một hoạt động được thực hiện liên tục trong quá trình khám bệnh, các bước theo trình tự hướng đến người bệnh để đạt được kết quả chăm sóc, điều trị từ khi người bệnh đến thăm khám, nhập viện hoặc ra viện. • Khái niệm về khám bệnh, chữa bệnh Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23/11/2009 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được hiểu như sau: - Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể - cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.
- Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuộc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. - Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. • Điều trị ngoại trú: - Điều trị ngoại trú được thực hiện trong trường hợp sau đây: + Người bệnh không cần điều trị nội trú; + Người bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng phải theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (15). Khái niệm về sự hài lòng của người bệnh và hài lòng của người bệnh về dịch vụ khám chữa bệnh 1.
Khái niệm sự hài lòng của người bệnh Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng. Theo từ điển Việt Nam: “Hài lòng là sự vừa ý vì những yêu cầu, đòi hỏi đã được đáp ứng đầy đủ. Người cung cấp dịch vụ không ngừng cải tiến sản phẩm/dịch vụ, nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng (16). Sự hài lòng của khách hàng theo Oliver là một trạng thái phản ứng đối với việc đáp ứng những mong đợi thông qua sử dụng dịch vụ.
Hài lòng thể hiện các đáp ứng ở mức trên mong đợi và không hài lòng thể hiện đáp ứng dưới mong đợi (17). Theo Kotler và cộng sự, sự hài lòng là trạng thái tâm lý xảy ra khi mong đợi được thỏa mãn hoặc kết quả dịch vụ vượt qua sự mong đợi. Mức độ của trạng thái cảm xúc hài lòng xuất hiện từ việc so sánh mong đợi với cảm nhận khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ (18). Trong bệnh viện, dịch vụ y tế là sản phẩm dịch vụ, còn người bệnh là khách hàng.
Sự hài lòng của người bệnh là một thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng dịch vụ tại bệnh viện. Ý kiến của người bệnh là quan trọng bởi vì sự không hài lòng gợi ý các cơ hội cải thiện dịch vụ y tế trong bệnh viện (19). Sự hài lòng người bệnh không chỉ phụ thuộc vào máy móc trang thiết bị mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan khác như tinh thần thái độ phục vụ, kiến thức kỹ năng tay nghề của cán bộ y tế và tính hợp lý của quy trình chăm sóc. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay sự hài lòng còn phụ thuộc vào mô hình tổ chức của cơ quan y tế đó, quy trình cải cách thủ tục hành chính,.
Tóm lại, hài lòng là sự phản ứng của khách hàng khi được đáp ứng mong muốn, là phản ứng của khách hàng về sự khác biệt giữa mong muốn và mức độ cảm nhận sau khi sử dụng dịch vụ (17). Sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trong bệnh viện, sự hài lòng của khách hàng là sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ y tế được cung cấp thông qua việc khám chữa bệnh của đội ngũ thầy thuốc và với bệnh viện (2). 6 Trên quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm, thì sự hài lòng của NB đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe là vấn đề cần được quan tâm. Sự hài lòng của người bệnh được thể hiện ở mức độ của sự thỏa mãn, cảm thấy có lợi ích và hiệu quả của mỗi cá nhân nhận được từ các nhà cung cấp dịch vụ y tế qua các dịch vụ trước và sau nhận của họ.
Sự hài lòng của người bệnh là tài sản của bệnh viện. Y tế là một trong những lĩnh vực dịch vụ vì vậy chỉ số hài lòng của người bệnh là tiêu chí dùng để đo lường sự đáp ứng của các cơ sở y tế đối với những mong đợi của người bệnh. Nói cách khác sự hài lòng của người bệnh là thước đo cao nhất của chất lượng hoạt động của các cơ sở y tế chứ không phải những hình thức tôn vinh nào khác. Nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh là một công cụ hữu ích giúp nhà quản lý bệnh viện xây dựng các chương trình cải thiện chất lượng phục vụ người bệnh (2).
Bộ công cụ đánh giá sự hài lòng 1. Bộ câu hỏi khảo sát sự hài lòng của người bệnh nội trú (SERVQUAL) Cho đến nay nhiều công trình nghiên cứu đã ứng dụng mô hình SERVQUAL để nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh đối với sản phẩm hay dịch vụ ở nhiều lĩnh vực và cũng được sử dụng nhiều trong lĩnh vực y tế để đánh giá sự hài lòng người bệnh. Tác giả Hussein M Al-Borie và cộng sự đã nghiên cứu hài lòng của NB về chất lượng dịch vụ của các bệnh viện tại Saudi thông qua bộ công cụ hỏi SERVQUAL trên 1000 NB (21). Công cụ SERVQUAL được thiết kế nhằm mục đích thu thập thông tin về kỳ vọng và nhận thức của người dùng/người bệnh đối với sản phẩm dịch vụ.
Bộ công cụ này được phát triển bởi các tác giả A. Parasuraman, Valarie Zeithaml and Leonard L. Theo nghiên cứu Afiq Izzudin A. Rahim và cộng sự năm 2021 về sự hài lòng người bệnh và đánh giá chất lượng dịch vụ KCB tư vấn trực tuyến tại bệnh viện, tác giả đã sử dụng bộ công cụ SERVQUAL kết hợp để khảo sát hài lòng người bệnh và phân loại sự hài lòng thông qua các yếu tố ảnh hưởng (24).
Bộ thang đo SERVQUAL được công bố năm 1988 xác định chất lượng dịch vụ như sau: 7 Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng Bộ thang đo SERVQUAL nhằm đo lường sự cảm nhận về dịch vụ thông qua năm thành phần chất lượng dịch vụ, bao gồm: - Tin cậy - Đáp ứng - Năng lực phục vụ - Đồng cảm - Phương tiện hữu hình Bộ câu hỏi gồm 22 cặp câu hỏi, mỗi cặp gồm 1 câu hỏi kỳ vọng và 1 câu hỏi cảm nhận. Bộ câu hỏi khảo sát sự hài lòng của người bệnh (HCAHPS) Bộ công cụ HCAHPS – đo lường sự hài lòng của bệnh nhân, khảo sát những trải nghiệm của người bệnh đối với dịch vụ chăm sóc nội trú mà họ nhận được. Bộ công cụ này tập trung vào các khía cạnh chính trong chăm sóc bệnh nhân, bao gồm: - Giao tiếp với điều dưỡng - Giao tiếp với bác sĩ - Trải nhiệm trong bệnh viện - Xuất viện - Hướng dẫn chăm sóc tại nhà - Đánh giá chung của bệnh viện Bộ công cụ gồm 7 nhóm chính với 25 câu hỏi. Bộ công cụ trên tập trung vào chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh nội trú, điều này khác với nghiên cứu của chúng tôi đó là tập trung vào sự hài lòng của người bệnh ngoại trú (25).
Nghiên cứu của Olena Mazurenko và cộng sự (2017) đã sử dụng bộ công cụ hỏi HCAHPS để thu thập dữ liệu và phân tích dự đoán hài lòng NB tại bệnh viện (26). Tương tự nghiên cứu của Kevin W Westbrook và cộng sự (2014) đã đo lường chất lượng dịch vụ bệnh viện dựa trên cảm nhận của bệnh nhân: tính hợp lệ và hữu ích trong quản lý của thang đo HCAHPS (27). Bộ câu hỏi đo lường sự hài lòng của người bệnh 18 câu hỏi (PSQ-18). Bộ công cụ có 18 câu hỏi này được dùng để khảo sát sự hài lòng của người bệnh trong 7 khía cạnh chính, gồm: - Hài lòng chung - Chất lượng kỹ thuật chăm sóc - Kỹ năng ứng xử của NVYT - Giao tiếp của NVYT - Tài chính - Thời gian tiếp cận với bác sĩ - Khả năng tiếp cận và sự thuận tiện với dịch vụ KCB Tại Tây Ban Nha (TBN), nghiên cứu của Á Iglesias-Puzas và cộng sự năm 2021 đã thẩm định bộ công cụ PSQ-18 dựa trên đánh giá hài lòng NB đối với dịch vụ KCB da liễu bằng phiên bản tiếng Tây Ban Nha.
Nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu 240 đối tượng nghiên cứu cho việc thẩm định và đã cho thấy hệ số Cronbach’alpha là 0,834; độ phù hợp của mô hình dữ liệu giữa bảng tiếng TBN và bảng gốc tiếng Anh. Với các kết quả sau thẩm định, BCC PSQ-18 đã được cho là đáng tin cậy và phù hợp trong đánh giá sự hài lòng của NB tại khoa Da liễu (28). Một nghiên cứu tổng quan về các thang đo hài lòng NB và khả năng áp dụng của các thang đo đối với NB điều trị COVID tại bệnh viện của nhóm tác giả Sidhartha Satpathy và cộng sự năm 2022 (29). Cách đánh giá sự hài lòng của người bệnh thông qua Bộ câu hỏi PSQ – 18 Bộ câu hỏi này sử dụng thang Likert 5 điểm, từ 1 (rất đồng ý) đến 5 (rất không đồng ý), mỗi một lĩnh vực được đánh giá dựa trên điểm trung bình của tất cả các câu hỏi trong một mục.
- Hài lòng chung (2 câu) - Chất lượng kỹ thuật chăm sóc (4 câu) - Kỹ năng ứng xử của NVYT (2 câu) - Giao tiếp của NVYT (2 câu) - Tài chính (2 câu) - Thời gian tiếp cận với bác sĩ (2 câu) 9 - Khả năng tiếp cận và sự thuận tiện với dịch vụ KCB (4 câu) (30). Bộ câu hỏi của Bộ Y tế Việt Nam Quyết định số 6859/QĐ-BT ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ tế về việc ban hành nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2016 (Áp dụng cho cả bệnh viện nhà nước và bệnh viện tư nhân) (10). - Mục tiêu chung: Xác định những vấn đề người bệnh chưa hài lòng khi điều trị tại bệnh viện để tiến hành cải tiến chất lượng, từng bước phục vụ người bệnh tốt hơn, đáp ứng sự hài lòng và mong đợi của người bệnh.