ĐẶT VẤN ĐỀ Sự hài lòng của người bệnh phản ánh một phần chất lượng của bệnh viện, tiến hành thường xuyên việc đo lường sự hài lòng của người bệnh sẽ làm cơ sở để khắc phục những bất cập trong cung cấp dịch vụ y tế, góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện, giúp đảm bảo vai trò chủ đạo của ngành y tế trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân (1), (2). Trên thế giới, nhiều tác giả qua nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng của người bệnh giúp cải thiện hệ thống y tế, thay đổi cơ cấu tổ chức cung ứng dịch vụ, tăng khả năng tiếp cận và hiệu quả của dịch vụ y tế, ảnh hưởng tích cực trong việc thay đổi quy trình làm việc và thái độ của nhân viên y tế…(3). Tại Việt Nam, nhiều đề tài nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh đã được thực hiện, bước đầu đánh giá được thực trạng cung cấp dịch vụ y tế hiện nay (4), (5), (6), (7). Qua đó, có thể thấy đánh giá sự hài lòng của người bệnh ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ y tế (8).
Năm 2016, Bộ Y tế triển khai đề án đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công (9). Đến năm 2019, tại Quyết định 3869/QĐ-BYT ngày 28/8/2019 đã ban hành các mẫu phiếu, các hướng dẫn khảo sát sự hài lòng của người bệnh và nhân viên y tế (10). Theo đó, các cơ sở khám chữa bệnh cần đo lường sự hài lòng của người bệnh thường xuyên nhằm xác định các vấn đề liên quan đến người bệnh, nắm bắt các yêu cầu, các mong muốn của người bệnh để xây dựng các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ y tế do đơn vị mình cung cấp. Khoa Khám bệnh của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang có khoảng 40 bàn khám, hàng năm có gần 500.000 lượt người bệnh.
Phòng khám do khoa Y học cổ truyền phụ trách mỗi ngày có khoảng 40 – 60 người bệnh đến khám và điều trị, chủ yếu là người bệnh lớn tuổi có các bệnh cơ xương khớp, bệnh lý thần kinh ngoại biên, di chứng bệnh mạch máu não…Trong bối cảnh bệnh viện được giao tự chủ hoàn toàn và quy định về thông tuyến tỉnh của Luật Bảo hiểm y tế đã tạo ra nhiều thách thức đối với hoạt động của bệnh viện, tình trạng quá tải về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và nhân lực đã gây nhiều hạn chế trong đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, ảnh 2 hưởng đến sự hài lòng của người bệnh. Ngoài ra, từ cuối năm 2019 đến nay, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhiều quy định nhằm đảm bảo cho công tác phòng chống dịch đạt hiệu quả đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến người bệnh và người nhà của họ khi đến khám và điều trị tại bệnh viện. Trước tình hình đó, làm như thế nào để nâng cao sự hài lòng đối với chất lượng dịch vụ y tế nhằm thu hút và duy trì người bệnh đang là vấn đề quan tâm của lãnh đạo bệnh viện nói chung và phòng khám Y học cổ truyền nói riêng. Kết quả khảo sát hài lòng người bệnh điều trị ngoại trú thường quy tại bệnh viện quý IV năm 2020, tỷ lệ hài lòng chung đạt 93%.
Trong đó, Điểm trung bình chung khả năng tiếp cận là 4,10 điểm; Điểm trung bình chung về sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị là 4,13 điểm; Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh là 4,16 điểm; Thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y tế là 4,35 điểm; Kết quả cung cấp dịch vụ là 4,05 điểm; Tỷ lệ hài lòng so với mong đợi là 95% (11). Tuy nhiên, khảo sát theo hướng dẫn của Bộ Y tế chưa phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và chỉ khảo sát chung cho toàn bệnh viện, chưa đánh giá riêng cho từng khoa. Từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ và một số yếu tố ảnh hưởng của người bệnh ngoại trú tại phòng khám Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2021” với mục tiêu nhằm mô tả sự hài lòng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ của người bệnh ngoại trú tại phòng khám Y học cổ truyền. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả sự hài lòng về chất lượng dịch vụ của người bệnh ngoại trú tại phòng khám Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2021; 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ của người bệnh ngoại trú tại phòng khám Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm về sự hài lòng của người bệnh Sự hài lòng của người bệnh (NB) là sự tích hợp giữa việc cảm nhận về chất lượng dịch vụ y tế mà họ thực sự được nhận và kinh nghiệm sẵn có hay kỳ vọng của họ. Những NB nhận được dịch vụ cao hơn kỳ vọng sẽ hài lòng. Ngược lại NB nhận được dịch vụ thấp hơn so với kinh nghiệm của họ sẽ không hài lòng (12). Theo Kotler, là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng (13).
Theo tác giả Phạm Trí Dũng, khái niệm về sự hài lòng (SHL) cũng như nhiều định nghĩa về tâm lý học khác rất dễ hiểu nhưng lại khó định nghĩa, là một khái niệm bao trùm. SHL là mức độ mong muốn mà người ta nhận được (14). Năm 2013, Bộ trưởng Bộ Y tế (BYT) ký Quyết định số 4448/2013/QĐ-BYT về việc phê duyệt đề án "Xác định phương pháp đo lường SHL của người dân đối với dịch vụ y tế công". Sự hài lòng của NB đã trở thành vấn đề nhận được sự quan tâm của lãnh đạo các cơ sở y tế.
Đến thời điểm hiện tại, đo lường SHL của NB đã trở thành hoạt động thường quy tại các bệnh viện (BV) ở Việt Nam. Theo Davis và Hobbs, thì SHL của NB thường có ít nhất 3 thành tố đó là: Khả năng tiếp cận DV (dấu hiệu, chỉ dẫn hướng đến các khu vực, thời gian chờ đợi, giờ phục vụ…); Môi trường cơ sở vật chất (sạch sẽ, yên tĩnh, điều kiện cơ sở vật chất, không gian…); Được chăm sóc, điều trị như thế nào (các khía cạnh về con người, lâm sàng và kết quả điều trị…) (15). Nội dung nghiên cứu SHL của NB thường tập trung vào các khía cạnh như: Sự đón tiếp; Thủ tục vào và ra viện; Quy trình triển khai DV khám chữa bệnh (KCB); Vệ sinh BV; Các DV khám bệnh và điều trị của nhân viên y tế (NVYT). Trong đó, tập trung vào các đặc điểm của những chức danh chuyên môn chủ yếu như bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh.
Đây là những người giữ vai trò quan trọng, họ có nhiệm vụ tiếp nhận NB, khám và chẩn đoán bệnh, kê đơn, theo dõi quá trình điều trị và tiến 5 triển của bệnh, tạo dựng tinh thần lạc quan giúp NB phục hồi sức khỏe trong thời gian sớm nhất (4). Khái niệm về dịch vụ y tế Dịch vụ y tế (DVYT) là các DV được cung cấp nhằm mục đích bảo vệ và nâng cao sức khỏe của cộng đồng. Dịch vụ y tế là một trong các DV xã hội cơ bản - hệ thống cung cấp DV nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận (16). Dịch vụ y tế là một loại hàng hóa mà người sử dụng (NB) thường không thể tự mình lựa chọn loại DV theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng là các cơ sở y tế.
Dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi các NVYT như khám bệnh, chữa bệnh và phục vụ NB. Là kết quả của các hoạt động tương tác giữa cơ sở y tế và NB để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe. Chất lượng DVYT được quyết định bởi hai yếu tố cơ bản: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh.
Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như cơ sở vật chất của BV, giao tiếp của NVYT với NB, cách thức tổ chức quy trình KCB, cách thức chăm sóc NB (17). Theo WHO, Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các DV về khám, chẩn đoán, điều trị bệnh và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ. Chúng bao gồm các DVYT cá nhân và các DVYT công cộng. Đặc điểm của dịch vụ y tế (18): Dịch vụ y tế là một ngành DV, do đó người cung ứng DV và người sử dụng DV quan hệ với nhau thông qua giá DV.
Tuy nhiên, không giống các loại hình DV khác, DVYT có một số đặc điểm riêng, đó là: Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các mức độ khác nhau. Do không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được. Dịch vụ y tế là loại hàng hoá NB thường không thể tự lựa chọn được mà chủ yếu do cơ sở y tế quyết định. Ngược với thông lệ, trong DVYT “cung quyết định cầu”.
Cụ thể, NB có nhu cầu KCB nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời 6 gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, có thể thấy, NB chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó chọn bác sĩ điều trị chứ ít được chủ động lựa chọn phương pháp điều trị. Dịch vụ y tế là DV gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người nên không giống các DV khác, khi bị bệnh, mặc dù không có tiền nhưng vẫn phải mua (KCB), đây là đặc điểm riêng không giống các loại DV khác. Khái niệm về sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ y tế Sự hài lòng của NB khi sử dụng DVYT phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của công tác KCB, vào các mối quan hệ phát sinh trong quá trình KCB.
Vì thế, đánh giá SHL của NB có thể nói thực chất là đánh giá chất lượng của DVYT. Theo Burker, “SHL của NB được sử dụng phổ biến trong việc đo lường chất lượng DVYT và đây như là một cách thức để đánh giá DV thông qua đo lường nhận thức của NB”.