Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ Y TẾ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dịch vụ y tế (DVYT) bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật hoặc các hoạt động nâng cao, duy trì và phục hồi sức khoẻ [50]. Các DVYT là các chức năng được dễ nhận thấy nhất trong bất kỳ hệ thống y tế nào kể cả người sử dụng và cộng đồng. Việc cung cấp DVYT là đề cập đến cách mà các nguồn lực như tiền bạc, nhân lực, trang thiết bị, thuốc men kết hợp lại để đưa ra các can thiệp sức khỏe.
Cải thiện sự tiếp cận, độ bao phủ và chất lượng của các dịch vụ phụ thuộc vào các nguồn lực chủ yếu sẵn có; vào cách mà dịch vụ được tổ chức và quản lý; và vào sự ưu đãi tác động đến cả những người sử dụng và cung cấp DVYT. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe là một sản phẩm vô hình và không thể nhìn thấy, cảm nhận, đếm và đo lường như hàng hóa sản xuất. Hàng hóa hữu hình cho phép ta định lượng, cảm nhận, kiểm tra chất lượng trong quá trình sản xuất và sử dụng sau này [51]. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH 1.
Khái niệm về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Dịch vụ khám chữa bệnh là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân và gia đình. Thực tế, người bệnh ít khi đánh giá chính xác chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh mặc dù họ có thể cảm nhận qua tiếp xúc với nhân viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất. Một người bệnh được phẫu thuật khó lòng biết được “chất lượng” của ca mổ như thế nào, ngoại trừ cảm giác đau sau mổ và vết mổ được nhìn thấy [41].
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm hai thành phần: chất lượng kỹ thuật (technical quality) và chất lượng chức năng (functional quality). Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh. Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách 5 thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh, …[41]. Quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Quản lý chất lượng trong chăm sóc sức khỏe là sự phối hợp các hoạt động nhằm không ngừng thỏa mãn yêu cầu của khách hàng thông qua quá trình giám sát, đánh giá chất lượng và áp dụng các biện pháp để thường xuyên tăng cường chất lượng bệnh viện [38].
Quản lý chất lượng toàn diện trong bệnh viện là cách làm việc đảm bảo sự hài lòng của đối tượng phục vụ thông qua việc lôi kéo tất cả nhân viên cùng tìm cách để sản xuất và cung cấp hàng hóa và các dịch vụ có chất lượng tốt [14]. Trong giai đoạn hiện nay các đơn vị chăm sóc sức khỏe và bệnh viện luôn gánh trên vai trách nhiệm cung cấp cho người dân dịch vụ y tế chất lượng cao mà giá thành lại phải chăng. Một bộ phận người dân hiện nay không có khả năng chi trả cho những dịch vụ y tế đắt đỏ. Dĩ nhiên nguồn lực đầu vào khác nhau cũng tạo ra các dịch vụ y tế chất lượng khác nhau, nhưng với đội ngũ y bác sĩ có tài năng và lương tâm nghề nghiệp thì dịch vụ y tế tiết kiệm chi phí là điều hoàn toàn có thể làm được.
Vì vậy, điều quan trọng nhất giờ đây là tập trung vào quản lý theo quan điểm mới. Người ta cần lưu ý tới các yêu cầu đối với một chiến lược như [15]: - Dịch vụ y tế tiết kiệm chi phí; - Dịch vụ y tế chất lượng quốc tế; - Đô thị hóa các bệnh viện; - Thúc đẩy công tác phòng bệnh; - Cải tiến hệ thống thông tin quản lý; - Nâng cao chất lượng thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ y tế; - Xây dựng đội ngũ y bác sĩ có lương tâm nghề nghiệp; - Tăng cường sử dụng các loại đông y, thuốc nam; - Đổi mới phương pháp giáo dục sức khỏe. Theo hướng dẫn của WHO, khi xem xét chất lượng dịch vụ y tế phải nhìn nhận đồng thời ba khía cạnh chất lượng: - Chất lượng đối với người bệnh: theo yêu cầu và trải nghiệm của người bệnh. - Chất lượng chuyên môn: theo yêu cầu của người bệnh và ứng dụng thực hành tốt nhất.
- Chất lượng quản lý: quy định hiệu quả và đáp ứng yêu cầu [16]. Những chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước, ngành y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác bảo vệ, chăm sóc và năng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nêu lên các nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện [6]. Sau 10 năm thực hiện, ngày 04 tháng 01 năm 2016, kết luận của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác bảo vệ, chăm sóc và năng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Trong đó chỉ đạo tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đảm bảo cho người dân dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản, triển khai đồng bộ các giải pháp giảm tải bệnh viện, nhất là ở tuyến trung ương [2].
Ngày 07 tháng 12 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành chỉ thị số 06/2007/CT-BYT về việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân. Chỉ thị đã đưa ra các biện pháp sau: hạn chế tình trạng quá tải bệnh viện; nâng cao năng lực tuyến y tế cơ sở; đẩy mạnh xã hội hóa công tác khám bệnh, chữa bệnh; nâng cao y đức trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; sữa đổi, bổ sung một số văn bản quản lý về công tác khám bệnh, chữa bệnh [12]. Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2013 Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án giảm tải bệnh viện giai đoạn 2013 – 2020 nhằm mục tiêu từng bước giảm tình trạng quá tải bệnh viện ở hai khu vực khám bệnh và điều trị nội trú; phấn đấu không để người bệnh phải nằm ghép trong bệnh viện; trước mắt tập trung giải quyết giảm quá tải ở các chuyên khoa: Ung bướu, ngoại - chấn thương, tim mạch, sản và nhi thuộc một số bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện tuyến cuối của hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh [40]. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phải được thực hiện một cách toàn diện, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BYT Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện [19].
Nhằm mục đích hướng dẫn các bệnh viện thực hiện các giải pháp cải tiến quy trình và thủ tục trong khám bệnh, rút ngắn thời gian chờ đợi, tránh gây phiền hà và tăng sự hài lòng của người bệnh, đặc biệt đối với người bệnh bảo hiểm y tế khi đến khám tại bệnh viện, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22 tháng 4 năm 2013 về việc hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện [20] và mới đây nhất, Sở Y tế Thành phố 7 Hồ Chí Minh ban hành Kế hoạch số 8090/KH-SYT ngày 20 tháng 09 năm 2017 về Phát triển các kỹ thuật điều trị chuyên sâu tại các bệnh viện tuyến cuối góp phần hình thành trung tâm y tế chuyên sâu đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân trong khu vực phía nam và du lịch y tế - giai đoạn từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo [39]. Trong những năm qua, ngành y tế đã quan tâm, đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng và giáo dục y đức, ban hành các quy định nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhân viên y tế như: quy định 12 điều y đức [11]; Thông tư số 07/2014/TT-BYT ngày 25 tháng 02 năm 2014 Quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế [22]. Bộ Y tế cũng đã triển khai kế hoạch thực hiện, phát động phong trào thi đua thực hiện tốt quy tắc ứng xử, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị trước đây và nay là Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị [7], [8]. SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH Hài lòng là sự vừa ý với những yêu cầu, đòi hỏi được đáp ứng đầy đủ.
Tuy nhiên, việc đáp ứng những yêu cầu của khách hàng một cách đầy đủ, thỏa mãn những nhu cầu của họ là việc làm không hề đơn giản. Người cung cấp dịch vụ phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như chất lượng hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng [35]. Nhu cầu là những đòi hỏi hay mong muốn mà đối tượng phục vụ đưa ra cho những người cung cấp dịch vụ thực hiện. Nhu cầu hợp lý tức là yêu cầu của đối tượng phục vụ về chất lượng công việc hoặc dịch vụ đưa ra trên cơ sở khả năng đáp ứng của người cung cấp dịch vụ thực hiện [13].
Thỏa mãn đối tượng phục vụ không chỉ là thõa mãn các nhu cầu và các mong muốn hợp lý của đối tượng phục vụ, mà nó còn thể hiện quan điểm xem nhu cầu của đối tượng phục vụ là trọng tâm [14]. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH Khi đo lường sự thỏa mãn/hài lòng của người bệnh, nhà quản lý bệnh viện thường đồng nhất hai khái niệm: chất lượng phục vụ của bệnh viện và sự thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh của người bệnh. Tuy nhiên, đối với các nhà nghiên cứu thì sự thõa mãn nhu cầu của người bệnh mang ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Chất lượng phục vụ của 8 bệnh viện chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ khám chữa bệnh.
Trong khi đó, sự thỏa mãn của người bệnh là một khái niệm tổng quát, nói lên sự hài lòng của họ khi thỏa mãn nhu cầu điều trị, khám chữa bệnh. Vì vậy, trong nghiên cứu này, sự thỏa mãn của người bệnh được đo lường bằng mức độ hài lòng tổng quát của người bệnh đối với dịch vụ chăm sóc điều dưỡng.