Luận án tiến sĩ: Kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại Quan Hóa, Thanh Hóa (2015-2017) - Hoàng Bình Yên

Mô hình thí điểm điều trị nghiện chất bằng methadone: phân tích kết quả, hiệu quả và tác động lâu dài. Nghiên cứu chi tiết về an toàn, phục hồi chức năng và

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

175
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình điều trị methadone tại tuyến xã

Điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone là phương pháp được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo. Tại Việt Nam, chương trình này bắt đầu thí điểm từ năm 2008 với mục tiêu giảm lây nhiễm HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy. Nghiên cứu triển khai tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2015-2017 đánh giá tính khả thi của mô hình điều trị methadone tại tuyến xã. Đây là huyện miền núi biên giới, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Mô hình đặt tại Trạm Y tế xã Thành Sơn và Trung Sơn nhằm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người nghiện sống xa trung tâm y tế huyện trên 50km. Trước khi triển khai, chỉ có 52 bệnh nhân tham gia điều trị, đạt hơn 30% chỉ tiêu. Sau khi mở rộng mô hình tuyến xã, số lượng bệnh nhân đăng ký tăng lên hơn 200 người vào cuối năm 2015. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng cho việc nhân rộng mô hình tại các vùng khó khăn.

1.1. Bối cảnh thực hiện nghiên cứu tại Quan Hóa

Huyện Quan Hóa là huyện miền núi biên giới phía tây tỉnh Thanh Hóa. Địa hình chủ yếu là đồi núi, giao thông đi lại khó khăn. Người nghiện chất dạng thuốc phiện tập trung tại thị trấn Hồi Xuân và các xã Xuân Phú, Thành Sơn, Trung Sơn. Khoảng cách từ hai xã Thành Sơn, Trung Sơn đến Trung tâm Y tế huyện trên 50km. Rào cản địa lý khiến nhiều bệnh nhân không thể duy trì điều trị hàng ngày tại tuyến huyện. Tình hình sử dụng ma túy trên địa bàn phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và sức khỏe cộng đồng.

1.2. Mục tiêu của luận án tiến sĩ y tế công cộng

Luận án đánh giá kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại tuyến xã. Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc triển khai chương trình methadone tại trạm y tế xã. Các chỉ số được theo dõi bao gồm tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị, tỷ lệ bệnh nhân còn lại trong chương trình sau 12 tháng. Nghiên cứu cũng đánh giá sự thay đổi hành vi sử dụng ma túy, tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Kết quả kỳ vọng cung cấp bằng chứng cho việc mở rộng mô hình tại các vùng miền núi khó khăn.

II. Phân tích thực trạng nghiện chất dạng thuốc phiện

Tình hình nghiện chất dạng thuốc phiện tại Việt Nam vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng. Theo thống kê, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy dao động từ 10% đến 60% tùy từng địa phương. Tại Thanh Hóa, số người nghiện ma túy có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở vùng miền núi. Các phương pháp cai nghiện truyền thống như cắt cơn giải độc, cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cho tỷ lệ tái nghiện cao, từ 80% đến 90% sau một năm. Điều trị thay thế bằng methadone đã chứng minh hiệu quả giảm sử dụng heroin, giảm hành vi tiêm chích và giảm lây nhiễm HIV. Tuy nhiên, việc triển khai chương trình còn nhiều thách thức. Rào cản về địa lý, khoảng cách đi lại là nguyên nhân chính khiến nhiều bệnh nhân bỏ điều trị. Nhận thức của cộng đồng về methadone còn hạn chế, nhiều người coi đây là thay thế chất này bằng chất khác. Nguồn nhân lực y tế tại tuyến xã còn thiếu, chưa được đào tạo bài bản về quản lý điều trị methadone.

2.1. Tình hình nghiện ma túy và HIV tại vùng miền núi

Vùng miền núi Thanh Hóa đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV. Người tiêm chích ma túy thường chia sẻ bơm kim tiêm, không sử dụng biện pháp an toàn. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này cao hơn nhiều lần so với dân số chung. Xã Thành Sơn và Trung Sơn nằm trong vùng có tình hình nghiện ma túy phức tạp. Giao thông cách trở khiến việc tiếp cận dịch vụ y tế hạn chế. Nhiều bệnh nhân phải đi hàng chục kilomet để đến cơ sở điều trị. Điều này dẫn đến tỷ lệ bỏ trị cao và hiệu quả điều trị thấp tại các chương trình tuyến huyện.

2.2. Hạn chế của các phương pháp cai nghiện truyền thống

Phương pháp cắt cơn giải độc bằng thuốc hướng thần, thuốc Bông Sen, Cedemex và điện châm cho tỷ lệ tái nghiện cao. Thời gian cắt cơn ngắn, bệnh nhân nhanh chóng quay lại sử dụng ma túy. Cai nghiện bắt buộc tại trung tâm tốn kém chi phí, ảnh hưởng quyền lợi người bệnh. Phương pháp đối kháng Naltrexone yêu cầu bệnh nhân phải ngừng opioids hoàn toàn trước khi sử dụng. Điều trị duy trì bằng methadone giải quyết được hạn chế này. Methadone giúp giảm dần sự phụ thuộc vào heroin, ổn định cuộc sống bệnh nhân. Đây là phương pháp được nhiều quốc gia áp dụng thành công.

III. Phương pháp triển khai mô hình thí điểm tại tuyến xã

Mô hình thí điểm triển khai theo Nghị định số 117/2014/NĐ-CP quy định về y tế xã phường thị trấn. Trạm Y tế xã được chọn là cơ sở điều trị methadone, thuộc quản lý của Trung tâm Y tế huyện. Bệnh nhân được tuyển chọn theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, bao gồm người nghiện chất dạng thuốc phiện từ đủ 18 tuổi trở lên. Liều methadone khởi đầu từ 10-30mg, tăng dần theo đáp ứng lâm sàng. Bệnh nhân uống thuốc trực tiếp tại trạm y tế dưới sự giám sát của nhân viên y tế. Thời gian điều trị duy trì tối thiểu 12 tháng, có thể kéo dài theo đánh giá lâm sàng. Song song với điều trị thuốc, chương trình cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý, hỗ trợ xã hội. Bệnh nhân được xét nghiệm HIV, viêm gan B, lao và các bệnh lây nhiễm khác. Hệ thống quản lý bệnh nhân được kết nối với Trung tâm Y tế huyện và Sở Y tế tỉnh. Đội ngũ nhân viên y tế tuyến xã được tập huấn chuyên sâu về quản lý điều trị methadone.

3.1. Quy trình tổ chức điều trị tại trạm y tế xã

Trạm Y tế xã Thành Sơn và Trung Sơn được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị. Phòng khám và cấp phát methadone được bố trí riêng biệt, đảm bảo tính bảo mật cho bệnh nhân. Nhân viên y tế được đào tạo về quy trình pha chế, cấp phát và theo dõi phản ứng có hại của methadone. Bệnh nhân đến uống thuốc hàng ngày vào giờ cố định. Mỗi lần cấp phát, nhân viên ghi chép đầy đủ liều lượng, tình trạng lâm sàng. Thuốc methadone được lưu trữ tại tủ thuốc chuyên dụng với quy trình kiểm soát nghiêm ngặt. Báo cáo định kỳ gửi về Trung tâm Y tế huyện để giám sát và đánh giá.

3.2. Đánh giá kết quả lâm sàng và xã hội của mô hình

Nghiên cứu theo dõi bệnh nhân trong 24 tháng, đánh giá nhiều chỉ số kết quả. Tỷ lệ bệnh nhân còn lại trong chương trình sau 12 tháng đạt tỷ lệ cao hơn so với mô hình tuyến huyện. Mức độ sử dụng heroin giảm đáng kể qua kết quả xét nghiệm nước tiểu. Tình trạng sức khỏe tâm thần và thể chất cải thiện rõ rệt. Bệnh nhân giảm hành vi phạm pháp, tăng khả năng tái hòa nhập cộng đồng. Gánh nặng kinh tế gia đình giảm do không phải chi phí mua heroin. Kết quả cho thấy tính khả thi và hiệu quả của mô hình điều trị tại tuyến xã miền núi.

IV. Kết luận và kiến nghị ứng dụng mô hình rộng rãi

Kết quả nghiên cứu chứng minh tính khả thi của mô hình điều trị methadone tại tuyến xã miền núi. Mô hình giúp tăng đáng kể số bệnh nhân tiếp cận điều trị, giảm rào cản về khoảng cách địa lý. Tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn so với mô hình tập trung tại tuyến huyện. Bệnh nhân được theo dõi liên tục, phát hiện sớm biến chứng và điều chỉnh liều phù hợp. Chương trình giảm gánh nặng cho hệ thống y tế huyện, phân tải hiệu quả nguồn lực. Chi phí vận hành mô hình tuyến xã thấp hơn đáng kể so với mở rộng phòng khám tuyến huyện. Kết luận của luận án đề xuất Bộ Y tế xem xét nhân rộng mô hình tại các huyện miền núi khó khăn. Cần xây dựng hướng dẫn chuyên môn cụ thể cho tuyến xã tham gia chương trình methadone. Đào tạo nguồn nhân lực y tế cơ sở là yếu tố then chốt đảm bảo chất lượng dịch vụ. Chính sách hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước cần được duy trì để đảm bảo tính bền vững của mô hình.

4.1. Ý nghĩa của nghiên cứu đối với chính sách y tế

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả mô hình điều trị methadone tại tuyến xã. Kết quả phù hợp với chủ trương phân tuyến, phân cấp trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mô hình đáp ứng mục tiêu quốc gia về phòng chống HIV/AIDS và kiểm soát tệ nạn ma túy. Ý nghĩa thực tiễn cao khi áp dụng cho vùng miền núi, biên giới, hải đảo. Bài học kinh nghiệm từ Quan Hóa có thể áp dụng cho các huyện tương tự trên cả nước. Nghiên cứu đóng góp vào hệ thống bằng chứng về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện tại Việt Nam.

4.2. Kiến nghị mở rộng và cải tiến mô hình điều trị

Cần nhân rộng mô hình tại các huyện miền núi có điều kiện tương tự Quan Hóa. Đào tạo nâng cao năng lực cho nhân viên y tế tuyến xã về quản lý methadone. Tích hợp dịch vụ điều trị methadone với chăm sóc HIV, lao và sức khỏe tâm thần. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh nhân và giám sát chương trình. Tăng cường truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng về điều trị nghiện bằng methadone. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa y tế, công an và chính quyền địa phương. Đánh giá dài hạn về hiệu quả kinh tế và tác động xã hội của mô hình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chất gây nghiện và chất ma tuý 4 Chất gây nghiện khi đưa vào cơ thể dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế thần kinh hoặc kích thích mạnh mẽ hệ thần kinh, làm giảm đau. gây ảo giác, dẫn đến thay đổi một hoặc nhiều chức năng của cơ thể người sử dụng [8, 9]. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành [6, 7].2 Chất dạng thuốc phiện (CDTP) Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Codein, Pethidine, LAAM… có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não[6, 8, 9].3 Khái niệm về nghiện chất và người nghiện CDTP Nghiện chất là tình trạng bắt buộc phải sử dụng chất gây nghiện bất chấp những tác hại của chúng.

Người nghiện CDTP là người sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần CDTP với liều lượng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tâm thần vào chất đó[8, 9].4 Cai nghiện Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người nghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai, vì vậy bệnh nhân cần phải được điều trị[8, 9].5 Hội chứng cai và tái nghiện Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng[8, 9]. Tái nghiện là sử dụng ma túy trở lại đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuất hiện sau khi đã ngưng sử dụng ma túy, hay sau khi điều trị hoặc cai nghiện với kết quả không còn triệu chứng cai [8, 9].6 Điều trị thay thế Methadone và cơ sở điều trị Methadone Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế là việc sử dụng thuốc thay thế Methadone để điều trị cho người nghiện CDTP [8, 9]. 5 Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone gọi tắt là cơ sở điều trị Methadone.

Cơ sở điều trị nghiện Methadone là đơn vị điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone cho người nghiện CDTP, bao gồm cả việc cấp phát thuốc Methadone.7 Tuân thủ điều trị Methadone Tuân thủ điều trị Methadone được định nghĩa là mức độ người bệnh dùng thuốc Methadone và thực hành tuân theo y lệnh của thầy thuốc[6, 9].8 Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý Trong chương trình điều trị Methadone, bỏ liều là tình trạng bệnh bệnh nhân không thực hiện uống thuốc hàng ngày: Bỏ 1-3 liều Methadone liên tục, xử lý uống như liều đang uống; bỏ từ 4-5 liều Methadone liên tục uống liều bằng ½ liều đang uống; bỏ từ 6 liều liên tục, xử lý khởi liều lại. Bỏ trị là tình trạng bệnh nhân bỏ liều liên tục trên 30 ngày và không quay lại tham gia điều trị[6, 9]. Tái sử dụng ma túy là sử dụng ma túy trở lại (dù chỉ một lần) để đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuất hiện.9 Vi phạm pháp luật 6 Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản: 1) Hành vi của con người gồm hành vi hành động và hành vi không hành động; 2) Là hành ví trái quy định của pháp luật.

Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ làm không đúng điểu pháp luật cho phép, không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật bắt buộc phải làm hoặc làm điều mà pháp luật cấm; 3) Là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể - trạng thái tâm lí thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện (nếu chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân thì người đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật định, không mắc các bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và hậu quả pháp lí của nó).10 Chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (Health-related quality of life viết tắt là HRQOL) là một thước đo quan trọng về nhận thức của bệnh nhân về bệnh tật của họ. Chất lượng cuộc sống bao gồm các lĩnh vực: Vấn đề sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, các mối quan hệ xã hội và môi trường[11].2 TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TUÝ VÀ NHIỄM HIV/AIDS 1.1 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Tình hình nghiện ma tuý:Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) năm 2017, ước tính có khoảng 246 triệu người, tương đương với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã từng sử dụng ma túy trái phép. Có khoảng trên 13 triệu người tiêm chích ma túy (PWID), ít nhất 190.000 trường hợp bị tử vong do sử dụng ma túy và đa phần là sử dụng các chất dạng thuốc phiện. Việc sử dụng các chất dạng thuốc phiện(thuốc phiện, Heroin) bằng cách tiêm chích vẫn là nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Việc sử dụng ma túy gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe như sốc quá 7 liều; chấn thương do tai nạn, hành vi bạo lực; tình trạng nghiện ma túy. Các ảnh hưởng mãn tính như là các bệnh (bệnh mạch vành, xơ gan,…), các bệnh lây truyền qua đường máu do vi rút (HIV, viêm gan B, viêm gan C.) và các rối loạn tâm thần[12-14]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trên toàn cầu, hết năm 2019, ước tính có 38 triệu người (31,1–43,9 triệu người) sống chung với HIV, trong đó có 1,8 triệu (1,3–2,4 triệu) người là trẻ em (<15 tuổi). Đa số những người nhiễm với HIV sống tại các nước thu nhập thấp và trung bình.

Ước tính có khoảng 35 triệu người đã tử vong do các nguyên nhân liên quan đến HIV, riêng năm 2019, có 940 000 (670 000–1,3 triệu) trường hợp tử vong. Theo UNODC, trong hơn 13 triệu người tiêm chích ma túy, có khoảng 1,6 triệu người (từ 1,2 đến 3,9 triệu người) nhiễm HIV, chiếm khoảng 11,5% số người tiêm chích ma túy trên toàn cầu. Tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B và viêm gan C trong nhóm TCMT cũng ở mức cao: Tỷ lệ nhiễm viêm gan C ở nhóm TCMT trên toàn cầu ước tính 51,0%, tỷ lệ nhiễm viêm gan B trong nhóm TCMT là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người (số liệu được tổng hợp từ báo cáo của 63 quốc gia)[14, 15].2 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam Tình hình nghiện ma tuý: Theo báo cáo năm 2015, toàn quốc thống kê được 201.180 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, đến 12/2020, cả nước đã có 246.500 người nghiện có hồ sơ quản lý, trong đó có 38.244 người đang cai nghiện bắt buộc trong các cơ sở cai nghiện ma túy; gần 80% có sử dụng ATS và chất hướng thần mới. Tại một số địa phương, tỷ lệ người nghiện sử dụng ATS và chất hướng thần rất cao như Đồng Nai 87%, Đà Nẵng 85%, Trà Vinh 90,7 %.Thời gian gần đây, ngoài ma túy truyền thống và ATS thì các loại ma túy khác như: Cần sa, “cỏ Mỹ”.

xuất hiện ngày càng nhiều. Độ tuổi sử dụng ma tuý dưới 16 chiếm 0,1%; từ 16 đến dưới 30 là 49%; từ 30 tuổi trở lên chiếm 50,9%; hầu hết là nam giới (96%), nữ chiếm 4%. Đa phần người nghiện ma tuý ở trong cộng đồng chiếm tỷ lệ 64,5%; số người đang cai nghiện trong các cơ sở Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội (22,4%); số đang trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ (13,1%). Trong số các loại ma tuý được báo cáo, sử dụng Heroin vẫn là chủ yếu chiếm 75%; ma túy tổng hợp 8 (10%); thuốc phiện (7%); cần sa (1,7%).

Công tác điều trị nghiện ở nước ta rất được quan tâm, đang được từng bước xã hội hóa và số người được tiếp cận dịch vụ cai nghiện ngày càng tăng. Tuy nhiên tỷ lệ tái nghiện vẫn còn ở mức cao (80%), thậm chí có nơi trên 95%[13, 14, 16, 17]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Ở Việt Nam dịch HIV/AIDS tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao: Nhóm tiêm chích ma túy (NCMT), nhóm nam tình dục đồng giới (MSM) và nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD). Theo kết quả giám sát trọng điểm 2015, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT, PNMD, MSM tương ứng là 9,3%, 2,7% và 5,1%.

Dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cả tỉnh, thành phố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường. Tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh có số lượng lớn người nhiễm HIV với diễn biến dịch phức tạp, khó kiểm soát. Có số lượng lớn người nhiễm HIV tập trung tại các tỉnh miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, các tỉnh miền núi Tây Bắc, các huyện miền núi Nghệ An và Thanh Hóa[14, 18-21]. Từ thời điểm 31/12/2015, toàn quốc có 202.437 người nhiễm HIV đang còn sống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong.

Trong số những người được báo cáo xét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV trong năm 2015, nữ chiếm 34,1%, nam chiếm 65,9%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không rõ chiếm 10,4%. Kết quả giám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và MSM là 5,2%[16]. Đến hết 31/12/2020, theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì cả nước có 213.008 người nhiễm HIV hiện đang còn sống và 107.812 người nhiễm HIV đã tử vong. Trung bình mỗi năm cả nước phát hiện thêm 11.000 ca nhiễm HIV và 2.800 người tử vong.

Số người mới phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16 - 29 (40,1 %) và 30- 39 (33,8 %). Đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (67,2 %) và qua đường máu (16,6 %), mẹ sang con 1,8 %. Tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm nghiện chích ma túy tại 20 tỉnh triển khai giám 9 sát trọng điểm HIV năm 2019 chiếm 12,78 % có xu hướng giảm so với năm 2017 (13,98 % )[14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ