Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁM, CHỮA BỆNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đánh giá Đánh giá là một quá trình kiểm tra, đánh giá một hệ thống về chất lượng để tìm ra các điểm phù hợp hay không phù hợp của một hệ thống chất lượng trong một tổ chức. Kết quả đánh giá giúp cải tiến về chất lượng.
Đánh giá chất lượng được tiến hành bởi đánh giá nội bộ hoặc đánh giá độc lập. Đây là nội dung trong tiêu chuẩn hệ thống quản lý ISO 9001 (Tiêu chuẩn ISO 9001:2015, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành). Có ba hình thức đánh giá bao gồm: - Đánh giá nội bộ: Được chính tổ chức hoặc bên được tổ chức uỷ quyền tự tiến hành đánh giá với các mục đích nội bộ. - Đánh giá của bên thứ hai: Là loại hình đánh giá được tiến hành bởi các bên quan tâm đến tổ chức như khách hàng, đại diện khách hàng… - Đánh giá của bên thứ ba: Do tổ chức độc lập bên ngoài tiến hành.
Tổ chức độc lập bên thứ ba được gọi là tổ chức chứng nhận. Như vậy, đánh giá là quá trình kiểm tra để xác định chất lượng về dịch vụ, sản phẩm nào đó. Giúp cho việc khẳng định chất lượng có đạt theo các tiêu chuẩn đã đề ra hay không. Qua đó giúp phát huy, cải tiến về chất lượng.
Khái niệm về dịch vụ và những vấn đề liên quan - Khái niệm dịch vụ: Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi là dịch vụ. Dịch vụ bao gồm các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Trong kinh tế, dịch vụ được coi là tương tự như hàng hóa nhưng phi vật chất. Về bản chất, dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu và mang lại lợi nhuận.
Theo Zeithaml & Britner (2000): "Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng" [41]. Theo Kotler & Armstrong (2001): “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất” [39]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt: "Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công" [35].
Giáo trình "Quản lý công", Học viện Hành chính Quốc gia (2015) lại quy ước: Dịch vụ là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm, mà là công việc của một con người dưới hình thái là lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên môn, khả năng tổ chức thương mại. Sản phẩm dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt, được biết đến khi sử dụng. Có thể hiểu, dịch vụ là hoạt động phục vụ thỏa mãn nhu cầu cá nhân hay tập thể trong sản xuất và sinh hoạt [29, tr180, 181]. Theo đó, có thể khái quát dịch vụ là: Hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của con người.
Dịch vụ phục vụ cho những nhu cầu cá nhân hoặc tập thể, gồm nhiều loại do nhu cầu đa dạng. Có thể chia thành dịch vụ mang tính cá nhân (mang tính đơn lẻ) và dịch vụ công (phục vụ cho cộng đồng). 15 - Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ là một sản phẩm rất đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác. Vì thế dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được.
Dịch vụ có những đặc điểm sau: Tính vô hình: Dịch vụ không thể nhìn thấy, nếm được, nghe hoặc ngửi thấy trước khi mua hoặc sử dụng. Chất lượng dịch vụ chỉ được đánh giá qua cảm nhận, sử dụng, giá cả. Có thể cảm nhận để đưa ra nhận xét. Tính không đồng nhất: Thực tế, dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp, phục vụ, thời gian, địa điểm hay đối tượng phục vụ.
Điều này có thể dẫn đến trường hợp, nhà cung cấp có thể dự định chất lượng dịch vụ có thể khác xa so với cảm nhận của người sử dụng. Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời, khó có thể tách rời một cách rạch ròi như các loại hàng hóa, sản phẩm thông thường. Với dịch vụ, chỉ có thể đồng hành ở một phần hoặc trong suốt quá trình tạo ra dịch vụ. Tính không lưu giữ được: Dịch vụ là thứ mà không thể cất giữ, lưu kho sau đó mới mang ra bán.
Nhà cung cấp dịch vụ sẽ gặp khó khăn khi nhu cầu của người sử dụng thay đổi. - Khái niệm dịch vụ công: Giáo trình "Quản lý công", Học viện Hành chính Quốc gia (2015) đưa ra khái niệm: "Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội" [29, tr184]. Tại Nghị định 32/2019/ND-CP Chính phủ (2019) cũng có đề cập tới khái niệm này, cụ thể như sau: “Dịch vụ công là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống 16 kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nhà nước phải tổ chức thực hiện” [20]. Dịch vụ công có các đặc trưng: Đó là các hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu lợi ích chung và thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức, công dân.
Dịch vụ công do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội, do các cơ quan công quyền hay được chính quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện. Trường hợp Nhà nước chuyển giao dịch vụ cho tư nhân cung cấp thì vai trò của Nhà nước vẫn thể hiện ở việc điều tiết, đảm bảo công bằng trong phân phối các dịch vụ. Dịch vụ công là các hoạt động phục vụ trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. Dịch vụ công có thể chia thành dịch vụ công cộng và dịch vụ hành chính công.
Tóm lại, dịch vụ công là hoạt động phục vụ cho nhu cầu của người dân có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước. Dù Nhà nước trực tiếp hay ủy quyền thì đều thể hiện vai trò trách nhiệm trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, điều hành, kiểm soát của Nhà nước nhằm đảm bảo người dân được tiếp cận, hưởng các quyền và lợi ích một cách công bằng, theo nhu cầu cao nhất. Khái niệm và đặc trưng của dịch vụ khám chữa bệnh - Khái niệm dịch vụ khám chữa bệnh Trong sách "Giáo trình Quản lý Nhà nước về Y tế" (2020), Học viện Hành chính Quốc gia nêu rõ: Dịch vụ y tế là dịch vụ công, đó là các hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân do các cơ sở y tế nhà nước hay tư nhân đảm nhận nhằm phục vụ cho nhu cầu chung của toàn xã hội hoặc nhu cầu riêng của mỗi cá nhân. Dịch vụ y tế được phân chia chủ yếu gồm 2 loại: Dịch vụ y tế công cộng và dịch vụ y tế tư.
Như vậy, có thể hiểu, các cơ sở 17 cung cấp dịch vụ y tế có thể là Nhà nước hay tập thể, tư nhân hoặc nước ngoài trên cơ sở bằng ngân sách Nhà nước hoặc các thành phần kinh tế [30, tr20]. Theo Luật Khám, chữa bệnh năm 2023: Khám bệnh là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để đánh giá tình trạng sức khỏe, nguy cơ đối với sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NB. Chữa bệnh là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để giải quyết tình trạng bệnh, ngăn ngừa sự xuất hiện, tiến triển của bệnh hoặc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NB trên cơ sở kết quả khám bệnh. NB là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [32].
Đặc trưng của dịch vụ KCB, theo Luật Khám chữa bệnh năm 2023 có quy định: Cơ sở KCB phải là cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hoạt động KCB để cung cấp dịch vụ KCB. Nguyên tắc trong KCB: Tôn trọng, bảo vệ, đối xử bình đẳng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với NB; Ưu tiên KCB đối với trường hợp NB trong tình trạng cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, phụ nữ có thai, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng; Tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong hành nghề KCB do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. [32] Từ những quan niệm, quy định nói trên, có thể hiểu dịch vụ KCB là một dịch vụ công, được cung ứng bởi cơ sở y tế công lập hoặc tư nhân được Nhà nước cấp phép hoạt động, dịch vụ KCB là để phục vụ cho nhu cầu kiểm tra, CSSK của người dân. Dịch vụ KCB liên quan tới sức khỏe con người nên đây luôn được coi là đặc biệt và cần thiết.
Khác với các loại dịch vụ khác, bên cung ứng dịch vụ KCB phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước. Khái niệm chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 1. Khái niệm chất lượng: Theo chuyên gia về quản lý chất lượng Feigenbaum: Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được hoặc không được nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh [38]. Đặc trưng của chất lượng là dựa trên sự thỏa mãn của các nhu cầu, nếu không thỏa mãn đó sẽ được đánh giá là kém chất lượng.
Chất lượng có đặc tính là không cố định, luôn biến động theo nhu cầu mỗi lúc một khác cho nên chất lượng chịu ảnh hưởng về thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. Cách đánh giá chất lượng thường là cảm nhận nên thường là không được miêu tả rõ ràng, chỉ qua sử dụng để đánh giá.