Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Sự hài lòng Sự hài lòng của người bệnh (NB) là: “Khi các dịch vụ y tế đáp ứng những mong đợi của NB / khách hàng chỉ tập trung trên các dịch vụ điều trị”. Tuy nhiên, dịch vụ chăm sóc y tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau và NB đánh giá sự hài lòng rộng hơn cho các phần khác nhau trong dịch vụ y tế hơn là chỉ số giới hạn trong quá trình điều trị bệnh [41].
Sự hài lòng của NB là hướng tới một trải nghiệm về chăm sóc sức khỏe bao gồm cả 2 khía cạnh nhận thức và tình cảm. Khái niệm này nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của NB, mà điều này phụ thuộc vào tâm trạng của người bệnh vào thời điểm điều tra [36]. Sự hài lòng của NB được coi là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ quan điểm của NB là một khía cạnh quan trọng trong việc phát triển các dịch vụ y tế. Theo Linder – Pelz sự hài lòng của NB “Sự đánh giá tích cực của cá nhân với khía cạnh khác nhau trong việc chăm sóc y tế”.
Tác giả cho rằng thái độ và nhận thức của NB trong chăm sóc cũng có thể đánh giá sự tìm kiếm và phản đối của việc chăm sóc. Bên cạnh đó đánh giá chăm sóc toàn viện nếu không đề cập đến khía cạnh “không hài lòng” từ người bệnh [39]. Có thể nói rằng sự hài lòng của NB là chỉ số quan trọng đánh giá nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe. Khái niệm về Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế (BHYT) là một hình thức huy động sự đóng góp của mọi người trong cộng đồng nhằm tạo một quỹ dự trữ để bù đắp chi phí khám chữa bệnh, điều trị khi bị ốm cho những người tham gia [34].
Các khái niệm dùng trong nghiên cứu Ngày điều trị: Là tổng số ngày NB nằm viện trong một đợt điều trị. Phương pháp điều trị: là phương pháp áp dụng điều trị cho NB khi nằm viện. Có 2 phương pháp điều trị: điều trị ngoại khoa và điều trị nội khoa. Điều trị ngoại khoa là NB được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật; điều trị nội khoa là NB được điều trị bằng thuốc không có can thiệp phẫu thuật trên NB.
Quy tắc ứng xử Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của viên chức trong thi hành nhiệm vụ và trong quan hệ xã hội do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, phù hợp với đặc thù công việc trong từng lĩnh vực hoạt động và được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành. Đạo đức nghề nghiệp là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệpdo cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định [31]. Bộ Y tế luôn quan tâm và chỉ đạo việc thực hiện năng cao kỹ năng ứng xử của cán bộ y tế. Từ năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 29/2008/QĐ- BYT về quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế.
Tuy nhiên sau thời gian thực hiện vẫn còn một số vướng mắc như người bệnh phiền hà về thời gian khám chữa bệnh, nhưng quan trọng nhất là phiền hà về thái độ phục vụ của nhân viên y tế. Chính vì vậy, ngày 25 tháng 02 năm 2014 Bộ Y tế ban hành Thông tư số: 07/2014/TT-BYT Thông tư “Quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại cơ sở y tế”. Thông tư 07 có 5 chương và 18 điều; tại điều 6. Ứng xử của công chức, viên chức y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [9].
Tầm quan trọng của sự hài lòng Nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh nhằm giúp NB đánh giá và góp ý về ứng xử NVYT trong chăm sóc, điều trị mà họ đã nhận được. Sự hài lòng của NB là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng BV; Trong kiểm tra BV có nội dung khảo sát sự hài lòng của NB để tìm hiểu NB có hài lòng về NVYT mình ở mức độ nào từ đó có biện pháp khắc phục để ngày càng làm cho NB hài lòng. 6 Sự hài lòng của NB cũng cho thấy những nhu cầu, thái độ của NB cũng bị ảnh hượng trực tiếp từ sức khỏe của họ. Chính vì vậy mà ứng xử của NVYT là yếu tố quan trọng nó ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của NB; khi NB đến cơ sở y tế NVYT chủ động chào hỏi với thái độ, lịch sự, niềm nở, thực hiện nghiêm túc về quy tắc ứng xử trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
NVYT phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ về quyền và lợi ích hợp pháp của NB, nội qui BV, khoa, tránh trì hoãn, thờ ơ, gây phiền hà cho NB. Khi NB hỏi thăm NVYT phải dừng lại việc làm của mình vui vẻ trả lời NB [3]. Một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng 1. Chăm sóc của điều dưỡng Khái niệm về chăm sóc “Sự đáp ứng của người chăm sóc đến người khác mang tính cá thể duy nhất và hiểu được cảm xúc của người khác” với những trang thiết bị hiện đại vẫn không thể thay thế hoặc hiểu ý của NB.
Ngoài việc điều trị bệnh người bệnh còn mong đợi chăm sóc về tinh thần và được hưởng những dịch vụ tốt nhất và an toàn nhất [33]. Theo Tổ chức Y tế thế giới dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng là một trong những trụ cột hệ thống chính của dịch vụ y tế. Chăm sóc điều dưỡng đóng góp trực tiếp vào việc giảm tỷ lệ biến chứng, tử vong, giảm chi phí, chất lượng điều trị được nâng cao góp phần làm tăng thêm sự hài lòng của NB [5]. Điều trị của bác sĩ Khi NB đến BV, nhất là NB nội trú họ thường cảm thấy lo lắng và bất an về bệnh tật của mình.
Sự lo lắng phụ thuộc vào tâm lý của mỗi người và cũng phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của Bác sĩ. Trong thời gian nằm viện họ luôn tin tưởng vào phương pháp điều trị của Bác sĩ. Đặc biệt là thái độ nhẹ nhàng, thân thiện tạo cho người bệnh một cảm giác an tâm, tin tưởng và sẳn sàng giúp đỡ người bệnh. Điều này làm cho NB ngày càng hài lòng về Bác sĩ hơn [5].
Một trong những xu hướng quan trọng trong sự phát triển y tế hiện đại là sự tham gia của người bệnh trong việc quản lý điều trị và chăm sóc cho họ. Về mặt thực hành, sự hợp tác của người bệnh rất quan trọng sẽ là yếu tố quyết định thành công hay thất bại [33]. Tâm lý của người bệnh Đối tượng phục vụ của NVYT là NB chính vì thế chúng ta phải biết được những thay đổi về tâm lý của NB ở từng thời điểm. - Diễn biến tâm lý của người bệnh khi đến khám bệnh Người bệnh lo lắng về bệnh tật của mình ở mức độ nào, có ảnh hưởng gì đến tính mạng không, có chữa bệnh được không.
Người bệnh lo lắng đến kinh tế gia đình có đủ tiền để chữa bệnh không, bệnh như thế ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào, có tiếp tục làm việc được không. Người bệnh suy nghĩ về người thầy thuốc, bệnh viện: nên đến bệnh viện nào, mình có gặp được thầy thuốc giỏi không, điều dưỡng có nhiệt tình chăm sóc mình không. - Diễn biến tâm lý của người bệnh khi nằm điều trị Họ luôn có những cảm xúc: lo âu, bồn chồn, thay đổi về tâm lý; mất ngủ, nhức đầu, khó chịu, giận hờn; hay để ý và phân tích tỉ mỉ những thiếu sót khuyết điểm của người khác, việc ứng xử, điều trị và chăm sóc của nhân viên y tế và họ mất lòng tin vào mọi người; thường hoài nghi về bệnh tật, kết quả chẩn đoán, điều trị và chăm sóc cũng như về mặt tình cảm của mọi người dành cho mình nhiều hơn, đôi khi họ đòi hỏi sự chăm sóc và phục vụ quá mức [4]. Các yếu tố xã hội về nhân khẩu học của người bệnh Những yếu tố về nhân khẩu học của NB có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của NB trong suốt quá trình điều trị và chăm sóc.
Một số nghiên cứu trong nước như tuổi, giới tính của NB ít có mối liên quan đến sự hài lòng. Trình độ học vấn có ảnh hưởng đến sự hài lòng của NB học vấn của NB càng cao thì họ đòi hỏi sự chăm sóc và điều trị cũng phải hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó các nghiên cứu của nước ngoài theo Avis, Bond và Arthur (1995) về tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ văn hóa, mức độ lo lắng của NB là những yếu tố ảnh hưởng đến việc hài lòng của NB [40]; Một nghiên cứu khác cũng được thực hiện bởi Liu và Wang (2007) về sự hài lòng của NB và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng BV ở Trung Quốc cho thấy NB có trình độ học vấn cao thì sự hài lòng với chăm sóc của điều dưỡng càng cao hơn so với những người có trình độ thấp [45]. Đối tượng tham gia ứng xử Đối tượng người bệnh mà nhân viên y tế tiếp xúc hàng ngày rất đa dạng có thể là người già, trẻ em, trí thức, nông dân, người giàu, người nghèo.
do đó để đạt được mục đích hài lòng của NB thì nhân viên y tế phải hiểu tâm lý của người bệnh để có cách ứng xử tốt nhằm đem đến một kết quả hài lòng cho NB. Tuy nhiên mỗi một nhân viên y tế có tính cách khác nhau, kinh nghiệm và cách chịu đựng khác nhau. Chính vì vậy mà mỗi một cuộc ứng xử điều có kết quả khác nhau. Công tác quản lý Công tác quản lý cũng là một quyết định thành công hay thất bại về kỹ năng ứng xử của nhân viên y tế với người bệnh.
Việc sắp xếp hay bố trí nhân lực phù hợp với lượng công việc không quá sức và thường xuyên kiểm tra, giám sát hay khen thưởng công bằng sẽ góp một phần không nhỏ vào công tác phục vụ người bệnh. Với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Linh (2006) tại bệnh viên Đa khoa Ninh Thuận cho thấy những yếu tố làm ảnh hưởng đến ứng xử của điều dưỡng là: tình trạng luôn quá tải, thiếu nhân lực, công việc quá nhiều so với họ. Chính những yếu tố đó làm cho họ luôn có tâm lý căng thẳng, mệt mỏi khi làm việc [18].