CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1.1 An toàn người bệnh Những tác giả đầu tiên đặt ý tưởng nghiên cứu về ATNB đã đúc kết được khái niệm về ATNB như sau: “ATNB là một môn khoa học trong lĩnh vực y tế, sử dụng các phương pháp của khoa học an toàn nhằm mục tiêu hướng tới đạt được một hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng và đáng tin cậy. ATNB cũng là một thành phần của hệ thống y tế, nó giúp giảm thiểu tần suất và tác động có hại của các sự cố, sai sót y khoa, và tăng tối đa khả năng hồi phục của người bệnh sau khi gặp phải các tình huống bất lợi” (4). ATNB là một chu trình có điểm khởi đầu nhưng có thể sẽ không có điểm kết thúc, nguyên nhân là do các sự cố y khoa luôn thường trực và có thể xảy ra bất cứ lúc nào (5). Vì vậy để phòng ngừa các sự cố y khoa thì phải có một chương trình quản lý ATNB được triển khai, tiếp tục duy trì và không ngừng liên tục cải tiến.2 Văn hóa an toàn Văn hóa an toàn chắc hẳn luôn luôn là một cấu phần quan trọng trong văn hóa của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào.
Khái niệm văn hóa an toàn không chỉ có trong lĩnh vực y tế, mà nó còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống như trong công nghiệp, giao thông vận tải, vận chuyển hàng không, cơ giới quân sự… (6). Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về chủ đề văn hóa an toàn đã được công bố trên thế giới. Trong đó một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất về chủ đề văn hóa an toàn trong các lĩnh vực là khái niệm của tổ chức AHRQ: “Văn hóa an toàn của một cơ quan, tổ chức là thái độ, nhận thức, năng lực, hành vi của từng cá nhân hoặc của một nhóm các cá nhân, qua đó đánh giá mức độ của sự cam kết, phong cách, trình độ và năng lực quản lý an toàn của một cơ quan, tổ chức. Một cơ quan, tổ chức có văn hóa an toàn tích cực đặc trưng bởi truyền thống của tổ chức đó được thiết lập dựa 5 trên sự tin tưởng lẫn nhau, sự chia sẻ về nhận thức tầm quan trọng của an toàn, và niềm tin về hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa.
Văn hóa an toàn cần có sự nhận thức về những giá trị, về niềm tin và những quy tắc quy phạm về những vấn đề quan trọng trong một số cơ quan, tổ chức và những thái độ, hành vi có liên quan đến văn hóa an toàn được khuyến khích, mong đợi và tán thưởng” (7).3 Sự cố và sai sót y khoa Là những tình huống ngoài ý muốn gặp phải trong chẩn đoán, chăm sóc và điều trị được gây ra bởi các yếu tố bao gồm cả khách quan và chủ quan mà không phải do tình trạng bệnh lý hoặc yếu tố xuất phát từ chính người bệnh, tác động đến sức khỏe, thậm chí đến sinh mạng của người bệnh (8). Sự cố y khoa được chia thành 3 mức độ: Mức độ 1 là nhóm sự cố nặng, người bệnh phải được cấp cứu hoặc phải can thiệp sâu về điều trị nội khoa hoặc ngoại khoa, gây ra thương tổn nặng có thể dẫn đến tử vong; Mức độ 2 là nhóm sự cố trung bình, người bệnh cần can thiệp điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, và ảnh hưởng thương tổn kéo dài, và mức độ 3 là nhóm sự cố nhẹ, người bệnh có thể tự hồi phục, chỉ cần điều trị tối thiểu hoặc không cần điều trị.2 Văn hóa an toàn người bệnh và thực trạng sự cố y khoa hiện nay 1.1 Văn hóa an toàn người bệnh Là văn hóa biểu hiện 5 yếu tố ở mức cao nhất mà NVYT cố gắng thể hiện trong công việc thông qua việc thực hiện các chương trình quản lý về ATNB. Văn hóa mà ở đó mọi NVYT cam đoan chịu trách nhiệm về sự an toàn của chính mình, đồng nghiệp, người bệnh và thân nhân người bệnh. Văn hóa ưu tiên đặt an toàn của người bệnh lên trên các mục tiêu về kinh tế và các mục tiêu khác.
Văn hóa động viên khuyến khích và khen thưởng những nỗ lực phát hiện, thông báo và xử lý các vấn đề về ATNB. Văn hóa mà trong đó các cơ sở y tế có cơ hội rút ra bài học kinh nghiệm từ các sự cố xảy ra. Văn hóa cung cấp nguồn lực và các yếu tố cần thiết để duy trì hiệu quả hoạt động của các hệ thống đảm ATNB (8, 9). 6 VHATNB của một bệnh viện được xem là thể hiện ở mức độ cao nhất phải được chứng minh thông qua hệ thống chương trình báo cáo sự cố (BCSC) liên tục, chính xác và hiệu quả.
Các chương trình BCSC phải được thông tin đến cho toàn thể nhân viên bệnh viện. Cách thức tiếp tiếp cận và thực hiện thao tác BCSC phải dễ dàng và minh bạch. Các sự cố được báo cáo phải được ghi nhận từ phía những người quản lý, không trừng phạt đối với các BCSC tự nguyện, và tất cả các BCSC phải được xem xét một cách đúng mực và thông tin phản hồi xác đáng đến với người thực hiện báo cáo và tất cả nhân viên trong bệnh viện. Thông qua đó những nhà quản lý có thể lên các phương án kiểm soát tình trạng mất an toàn đang diễn ra và đồng thời đưa ra các chương trình cải tiến chất lượng để ngăn ngừa các sự cố y khoa trong bệnh viện (10).2 Thực trạng sự cố y khoa hiện nay Tháng 03 năm 2018, WHO công bố 10 thống kê báo động về tình trạng mất ATNB trên thế giới.
Cụ thể ở các nước phát triển trên thế giới, thì các nghiên cứu cho thấy cứ 10 người bệnh thì có 1 người gặp phải sự cố y khoa trong thời gian nằm viện điều trị và chăm sóc tại các cơ sở y tế. Còn ở các quốc gia mà người dân có mức thu nhập thấp và trung bình LMIC (LMIC: Low - and middle - income countries) thì trong số 134 triệu sai sót y khoa được báo cáo hàng năm liên quan đến các vấn đề thiếu an toàn trong chăm sóc tại các bệnh viện đã dẫn đến hậu quả là 2,6 triệu người bệnh tử vong. Tần suất xảy ra sai sót y khoa trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu và điều trị ngoại trú là chiếm khoảng 40%. 15% tổng ngân sách cho hoạt động của bệnh viện tại các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là phục vụ cho các sự cố y khoa.
Trên thế giới hàng năm, các quốc gia đã tiêu tốn ngân sách quốc gia liên quan đến sai sót trong sử dụng thuốc ước tính khoảng 42 tỷ USD. Chẩn đoán thiếu chính xác hoặc chậm trễ trong ra quyết định chẩn đoán là nguyên nhân thường gặp có ảnh hưởng nguy hại cho người bệnh, hiện thống kê cho thấy đây là nguyên nhân hàng đầu gây ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người trên thế giới. Trong số 100 người bệnh nhập viện điều trị tại mọi thời điểm, có 7 người ở các quốc gia phát triển và 10 người ở các quốc gia đang phát triển sẽ mắc ít nhất một bệnh lý nhiễm trùng liên quan đến quá trình 7 nằm viện. Hàng năm, hơn 1 triệu người bệnh tử vong do các biến chứng của phẫu thuật gây ra.
Ước tính tỷ lệ sự cố liên quan đến phóng xạ là khoảng 15 trên 10 nghìn lượt thực hiện chẩn đoán hình ảnh. Thông qua đó khẳng định việc đầu tư vào nghiên cứu ATNB có thể mang lại kết quả tiết kiệm ngân sách đáng kể cho các quốc gia trên thế giới và thực tế là hiện nay nhiều quốc gia đã dành một phần ngân sách quốc gia cho việc nghiên cứu và thực hiện các hoạt động cải tiến chất lượng ATNB, các hoạt động này đã làm giảm đến 15% thiệt hại về kinh tế do sự cố y khoa gây ra, góp phần tiết kiệm hàng tỷ USD mỗi năm (11). Những thông tin kể trên chỉ là một phần rất nhỏ của các vấn đề báo động về tình hình mất ATNB trên thế giới mà WHO đưa ra khuyến cáo để các cơ sở y tế trên toàn thế giới nghiêm túc trong việc phòng ngừa các sự cố y khoa. Tầm quan trọng của BCSC đã được thể hiện rõ nét trong việc nâng cao VHATNB.
BCSC trở thành công cụ thu thập dữ liệu sự cố y khoa hiệu quả và thông qua việc phân tích các dữ liệu này có thể xác định các xu hướng tiềm ẩn và nguy cơ trong chăm sóc y tế đang hiện hữu tại các cơ sở y tế. Mục tiêu của chương trình BCSC đặc biệt là báo cáo tự nguyện không phải là để trừng phạt hay ghi nhận lỗi mà là để kiểm soát tốt các nguy cơ rủi ro nên cần khuyến khích các NVYT tăng cường tự nguyện BCSC. Đây là công cụ hiệu quả trong quản lý rủi ro tại các cơ sở y tế. WHO cũng nhận định sự cố y khoa là một cấu phần quan trọng trong chương trình ATNB (12).3 Bộ công cụ đánh giá văn hóa an toàn người bệnh Trên thế giới hiện nay có nhiều tác giả sử dụng các bộ công cụ khác nhau để thực hiện nghiên cứu về VHATNB.
Trong đó có 5 bộ công cụ được nhiều tác giả lựa chọn sử dụng nhất hiện nay trong các nghiên cứu là: - Bộ câu hỏi HSOPSC (Hospital Survey on Patient Safety Culture Framework) của tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ - Agency for Healthcare Research and Quality). 8 - Khung đánh giá VHATNB Manchester (Manchester Patient Safety Culture Framework) của tổ chức an toàn người bệnh Anh Quốc (NPSA – National Patient Safety Agency). - Bộ câu hỏi về thái độ an toàn (Safety Attitudes Questionaire). - Bảng khảo sát về thái độ an toàn của Viện cải tiến sức khỏe Hoa Kỳ (US Instistute of Health Improvement – IHI) và đại học Texas (Mỹ).
- Bảng khảo sát thái độ ATNB trong các tổ chức sức khỏe của đại học Stanford (Mỹ). Tất cả 5 bộ công cụ kể trên đều đánh giá VHATNB thông qua 5 tiêu chí là: Yếu tố quản lý, yếu tố trao đổi thông tin hiệu quả, yếu tố tham gia của NVYT, yếu tố văn hóa học hỏi từ sai sót, yếu tố văn hóa buộc tội (13).1 Khung đánh giá văn hóa an toàn người bệnh Manchester Đây là công cụ được phát triển bởi tổ chức an toàn người bệnh Anh Quốc.