CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm trong nghiên cứu 1. Sự cố y khoa Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Thông tư số 43 ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”. Trong Thông tư 43 định nghĩa: “Sự cố y khoa là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chuẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa NB, tác động sức khỏe, tính mạng của NB” (15).
Các sự cố y khoa thường gây ra những hậu quả theo nhiều mức độ khác nhau đến NB, mức độ nhẹ làm kéo dài thời gian nằm viện, chi phí, mức độ trung bình có thể ảnh hưởng đến các bộ phận, chức năng của cơ thể, mức độ nặng sẽ dẫn đến tàn tật vĩnh viễn hoặc thậm chí tử vong. Do đó, sự cố y khoa là vấn đề cốt lỏi ảnh hưởng đến ATNB, cần được ưu tiên, phòng ngừa và kiểm soát chặt chẽ tại mỗi CSYT. An toàn người bệnh Vào tháng 10 năm 2004 WHO đã khởi động một chương trình ATNB theo Nghị quyết của Đại hội đồng Y tế Thế giới (2002), WHO kêu gọi các quốc gia thành viên chú ý đến vấn đề ATNB. Cơ sở này nhấn mạnh tầm quan trọng của ATNB như một vấn đề chăm sóc sức khỏe toàn cầu.
Chương trình ATNB của WHO nhằm mục đích phối hợp, phổ biến và đẩy nhanh những cải tiến về ATNB trên toàn thế giới. Nó cũng cung cấp một phương tiện cho sự hợp tác và hành động quốc tế giữa các Quốc gia Thành viên của WHO, Ban Thư ký của WHO. Mỗi năm, Tổ chức ATNB của WHO cung cấp một số chương trình bao gồm các khía cạnh hệ thống và kỹ thuật để cải thiện sự an toàn của NB trên khắp thế giới (16). Theo đó, WHO định nghĩa “ATNB là việc không gây ra thương tổn (thương tổn có thể phòng ngừa được) đến NB trong quá trình chăm sóc, điều trị và giảm các nguy cơ gây tổn hại (có thể xảy ra) ở mức tối thiểu (chấp nhận được)” (16).
5 Theo cơ quan Nghiên cứu Sức khỏe và Chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) định nghĩa “ATNB là việc không gặp phải những tổn thương không mong muốn, có thể phòng ngừa được gây ra do chăm sóc y khoa. Những biện pháp can thiệp phải nhằm cải tiến ATNB là những biện pháp giúp giảm tần xuất các sự cố có thể ngăn ngừa được” (10). Chương trình ATNB là một hoạt động có điểm đầu nhưng không có điểm kết, bởi vì các sự cố có nguy cơ xảy ra đối với NB luôn thường trực trong quá trình chăm sóc, điều trị y tế. ATNB luôn được xem là nguy tắc cơ bản của ngành Y, nó giảm tối thiểu các sự cố và tối đa sự hồi phục các sự cố đã xảy ra (17).
Vì vậy, đảm bảo an toàn trong chăm sóc, điều trị là trách nhiệm của mỗi NVYT, mỗi cơ sở CSYT. Văn hóa ATNB Khi các CSYT liên tục cố gắng cải thiện chất lượng và ATNB thì các nhà Lãnh đạo ngày càng nhận ra tầm quan trọng của việc thiết lập văn hóa an toàn NB tốt. Để làm được điều này, đòi hỏi các bộ phận lãnh đạo, toàn thể NVYT của mỗi CSYT phải hiểu rõ các giá trị của tổ chức, niềm tin và vai trò của họ trong các hoạt động, luôn có thái độ tích cực và hành vi phù hợp để duy trì một văn hóa tốt. Một khái niệm văn hóa an toàn được cơ quan Nghiên cứu Sức khỏe và Chất lượng Hoa Kỳ đưa ra như sau: “Văn hóa an toàn của một tổ chức là kết quả của những giá trị từ tổ chức, cá nhân thông qua nhận thức, thái độ, năng lực, hành vi và khả năng quản lý an toàn, sức khỏe.
Văn hóa an toàn tích cực của mỗi tổ chức được đặc trưng bởi niềm tin (sự tin tưởng lẫn nhau) trong công việc, đồng thời có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của vấn đề an toàn để thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa sự cố xảy ra” (10). Đối với người bệnh, văn hóa ATNB tốt, không những làm giảm ngày nằm viện, giảm chi phí chăm sóc, điều trị, các sự cố y khoa mà còn làm giảm tỷ lệ tử vong. Đối với NVYT, văn hóa ATNB tốt giúp cải thiện nhận thức, thái độ giao tiếp, làm việc, tăng tần suất báo cáo sai sót y khoa tự nguyện, đồng thời làm giảm các sự cố trong quá trình chăm sóc, điều trị, đảm bảo an toàn cho NB (11-14). 6 Sở Y tế TP.
HCM đã nêu rõ, xây dựng văn hóa ATNB là chương trình, hoạt động cần được triển khai ở mỗi CSYT. Xây dựng văn hóa ATNB không phải là những công việc phức tạp, trừu tượng, mà ngược lại, đây là những hoạt động gần gũi, đơn giản, thiết thực để gián tiếp đảm bảo an toàn cho NB, đồng thời nâng cao chất lượng khám và điều trị của BV (18). Phương pháp đánh giá văn hóa ATNB Các phương pháp định lượng, cụ thể là khảo sát trên giấy hoặc trên web, được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá văn hóa an toàn. Tám công cụ khảo sát dưới đây (Bảng 1.1) sử dụng thang đo Likert để đánh giá nhận thức của NVYT về văn hóa ATNB.
Ngoài ra, các bộ công cụ sẽ có bổ sung thêm các câu hỏi về nhân khẩu học. Các bộ công cụ có thời gian hoàn thành khác nhau cho mỗi lần khảo sát, dao động từ 5 phút đến hơn 20 phút, có nhiều công cụ không được báo cáo thời gian hoàn thành. Phương pháp định tính chỉ có riêng bộ công cụ MaPSaF đã được sử dụng. Bộ Công cụ này thu thập ý kiến của người tham gia về văn hóa ATNB bằng cách sử dụng các hội thảo, được hỗ trợ bởi các nhân viên quen thuộc với văn hóa ATNB.
Các hội thảo tạo ra dữ liệu bằng cách thúc đẩy phản ánh của nhân viên và thảo luận về các vấn đề văn hóa ATNB ảnh hưởng đến nơi làm việc cần nghiên cứu. Tám bộ công cụ sẽ được tổng hợp và so sánh các mức độ phản ánh về văn hóa ATNB được đề cập ở Bảng 1.1 sau đây: Bảng 1. Các công cụ đánh giá văn hóa ATNB (1,19-23). Tác giả Chức năng Sexton và cộng sự AHRQ Stanford M.U bộ công cụ MaP SAQ SCSu SCSc Vic SCS SCORE HSOPS MSI PSCHO SaF CSYT ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ Cơ sở chăm sóc, điều trị các bệnh cấp tính Chăm sóc tại – – – – – – – – nhà Chăm sóc ban – – – – – – – – đầu 7 Tác giả Chức năng Sexton và cộng sự AHRQ Stanford M.U bộ công cụ MaP SAQ SCSu SCSc Vic SCS SCORE HSOPS MSI PSCHO SaF Bệnh nội trú – – – – – – – – Phòng mổ – – – – – – – – Phòng cấp cứu – – – – – – – – Chăm sóc bệnh – – – – – – – – mãn tính Phòng khám bác – – – – – – – – sĩ (BS) gia đình Chăm sóc trước – – – – – – – – nhập viện Nhà thuốc ở – – – – – – cộng đồng Phòng khám – – – – – – – tâm thần Dịch vụ cấp cứu – – – – – – – – Đã được đánh – – – giá Hướng dẫn sử dụng bộ công cụ và chương trình – – – – – cải tiến chất lượng ĐẶC ĐIỂM Thời gian hoàn 10 – 10 > thành 15 10 -15 – – – – – phút 120 Phút phút (ngắn) phút (ngắn) Số lượng câu 36 15 42 hỏi (ngắn) (ngắn) 21 13 (ngắn) 48 42 32 10 60 38 74 (dài) (dài) (dài) Độ tin cậy được – chấp nhận 8 Tác giả Chức năng Sexton và cộng sự AHRQ Stanford M.U bộ công cụ MaP SAQ SCSu SCSc Vic SCS SCORE HSOPS MSI PSCHO SaF ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG 1.
Hỗ trợ của lãnh đạo BV về ** * * ** ** *** *** *** KC ATNB 2. Những tồn tại về hệ thống, quy trình/ mức độ * * * KC KC * * ** *** tuân thủ ảnh hưởng đến ATNB 3. Nguồn lực đảm bảo ATNB ** KC KC ** KC ** KC ** ** (nhân lực, vật lực, đào tạo) 4. Chất lượng ** KC KC ** ** *** KC * ** làm việc nhóm 5.
Phản hồi thông tin về sai * * * * * *** *** *** *** sót 6. Tập trung cải thiện hệ thống * * * * ** ** *** *** ** từ những sai sót 7. Nhận thức của NVYT về công việc hiện ** KC KC ** *** KC KC KC KC tại (ví dụ: sự hài lòng, căng thẳng, …) 8. Nhận thức ** * * ** ** *** ** ** chung về ATNB 9.
Được thưởng KC khi thực hiện tốt KC KC KC KC KC KC KC ** ATNB 9 Tác giả Chức năng Sexton và cộng sự AHRQ Stanford M.U bộ công cụ MaP SAQ SCSu SCSc Vic SCS SCORE HSOPS MSI PSCHO SaF 10. Báo cáo các KC vấn đề liên quan KC KC KC KC KC *** KC ** đến ATNB * Mức độ đo lường các câu hỏi ở mỗi bộ công cụ có đề cập đến nhưng không chuyên sâu; ** Mức độ đo lường được tập trung đo lường lĩnh vực này; *** Tập trung đo lường chuyên sâu đến lĩnh vực này; : Đã được áp dụng; –: Không được báo cáo; KC: Không có.1 có thể thấy mỗi bộ công cụ thể hiện một điểm mạnh khác nhau và phù hợp cho mỗi mục đích khác nhau. Xem xét tổng thể nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy bộ công cụ HSOPSC thể hiện đầy đủ các mục tiêu nghiên cứu của nhóm nghiên cứu chúng tôi cần, thông qua việc đánh giá toàn diện các lĩnh vực văn hóa ATNB, bên cạnh đó thời gian hoàn thành khảo sát của Bộ công cụ ngắn, được hướng dẫn sử dụng và chẩn hóa cụ thể. Ngoài ra, bộ công cụ HSOPSC phù hợp cho nghiên cứu tại đơn vị của chúng tôi (BV Răng Hàm Mặt Trung ương TP.
HCM) và đặc biệt, HSOPSC là bộ công cụ duy nhất đã được chuẩn hóa bằng ngôn ngữ tiếng Việt, cũng đã được AHRQ chấp nhận sử dụng tại các BV ở Việt Nam. Do đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi lựa chọn Bộ công cụ HSOPSC để thực hiện cho nghiên cứu này.