CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Vệ sinh tay của nhân viên y tế 1. Khái niệm Vệ sinh tay của nhân viên y tế là làm sạch tay bằng nước với xà phòng có hay không có chất sát khuẩn hoặc chà tay khử khuẩn [33]. Trong đó, rửa tay với nước và xà phòng trung tính là không có chất khử khuẩn.
Rửa tay khử khuẩn là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn. Chà tay khử khuẩn là chà toàn bộ bàn tay bằng một chế phẩm vệ sinh tay chứa cồn (không dùng nước) nhằm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn tay [49]. Những chế phẩm cồn vệ sinh tay thường chứa 60% đến 90% cồn Ethanol hoặc Isopropanol hoặc kết hợp 2 loại cồn trên với 1 chất khử khuẩn khác [6]. Hiệu quả của vệ sinh tay lên các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe Vệ sinh tay là một phương pháp đơn giản và tiết kiệm chi phí, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự bùng phát của bệnh nhiễm trùng.
Việc thiếu thực hành vệ sinh tay đúng cách là nguồn lây lan các bệnh nhiễm trùng thông thường liên quan đến chăm sóc sức khỏe có thể ảnh hưởng đến đường tiết niệu, hô hấp và tiêu hóa cũng như các vị trí phẫu thuật [31]. Tầm quan trọng của việc vệ sinh tay được khẳng định một lần nữa vào năm 2002 thông qua hướng dẫn sửa đổi do Trung tâm Kiểm soát 4 và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) công bố, trong đó khuyến nghị sử dụng dung dịch gốc cồn để khử trùng tay khi mà tay nhiễm các chất bẩn mắt thường không thể nhìn thấy và sử dụng xà phòng và nước để vệ sinh tay với các chất bẩn có thể nhìn thấy [34], [16]. Trong một nghiên cứu của Girou và cộng sự, chất chà tay chứa cồn được cho là có hiệu quả hơn đáng kể so với rửa tay bằng xà phòng trong việc giảm ô nhiễm vi khuẩn [39]. Việc thường xuyên rửa tay với xà phòng và nước sạch, giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân luôn là một biện pháp đơn giản, dễ làm, hiệu quả cao trong phòng, chống các dịch, bệnh truyền nhiễm [32].
Rửa tay với xà phòng ở các thời điểm quan trọng, nhất là trước khi ăn hoặc sau khi đi vệ sinh, sau khi chăm sóc người bệnh có thể ngăn chặn sự lan truyền mầm bệnh. Theo Tổ chức Y tế thế giới, vệ sinh tay là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ lây nhiễm COVID-19, bệnh đậu mùa khỉ. Thường xuyên rửa tay với xà phòng cũng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tay chân miệng, tiêu chảy, Adeno virus, cúm, giun sán… [7] Theo thống kê mới nhất của Quỹ Nhi Đồng Liên hợp quốc (UNICEF), số lượng người rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn chỉ chiếm 12% và con số này chỉ nhỉnh hơn một chút, với 16% rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh. Thói quen không tích cực này tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi và phát triển gây nên hàng loạt các dịch bệnh nguy hiểm.
Tầm quan trọng của việc rửa tay chưa được nhìn nhận đúng đắn là một trong 5 những nguyên nhân dẫn đến nhiều dịch bệnh đe dọa bùng phát, trong đó có cả Ebola. Năm 2008, Liên hiệp quốc đã chọn ngày 15-10 hằng năm là Ngày Thế giới rửa tay với xà phòng; tổ chức y tế thế giới cũng đã chọn ngày 05-5 hằng năm là Ngày Vệ sinh tay thế giới. Trong những năm qua, Bộ Y tế đã liên tục phát động phong trào vệ sinh bàn tay ở các bệnh viện và cộng đồng. Tổ chức Y tế thế giới nhấn mạnh, vệ sinh tay được coi là liều vắc xin tự chế rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu người.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chỉ một động tác vệ sinh tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới. Để phòng, chống các dịch bệnh đường tiêu hoá, các nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính nguy hiểm như Tả, SARS, Cúm A (H5N1, H1N1). đặc biệt bệnh Tay - Chân - Miệng đang bùng phát và có nguy cơ lan trên diện rộng, các chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới cũng đưa ra lời khuyên thiết thực là luôn giữ đôi bàn tay sạch sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Rửa tay với xà phòng không chỉ bảo vệ sức khỏe cho cá nhân mà đó còn là hành động thiết thực phòng tránh dịch bệnh cho cả cộng đồng, vì một tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ Việt Nam.
6 Trên thế giới, nhiễm khuẩn bệnh viện có tỷ lệ mắc cao. Theo điều tra của Mỹ (1998 – 2001) 5-10% người bệnh nhập viện mắc phải nhiễm trùng bệnh viện: có 2 triệu người mắc trên một năm; Vì các trường hợp nhiễm trùng bệnh viện xảy ra ở khoa chăm sóc đặc biệt. Hằng năm có khoảng 90 nghìn người tử vong do nhiễm trùng bệnh viện; chi phí hàng năm tới 4,5 – 5,7 tỷ USD. Theo số liệu điều tra của Tổ chức Y tế Thê giới tại 47 bệnh viện của 14 nước đại diện cho các khu vực khác nhau, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 8,7%.
Vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế là một trong những giải pháp hàng đầu được Tố chức Y tế Thế giới khuyến cáo nhằm tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện và phòng ngừa các bệnh lây truyền cho người bệnh và nhân viên y tế trong quá trình cung cấp dịch vụ y tế. Trên da tay thường có cả hai loại vi khuẩn: vi khuẩn thường trú và vi khuẩn vãng lai. Các vi khuẩn thường trú có độc tính thấp, ít khi gây nhiễm trùng qua các tiếp xúc thông thường, song chúng có thể gây độc tính qua các thủ thuật xâm lấn vào người bệnh. Các vi khuẩn vãng lai là những tác nhân gây nhiễm trùng bệnh viện phổ biến, thường tồn tại trên da không quá 28 tiếng.
Chúng không có khả nâng nhân lên trên da và dễ bị loại bỏ bằng rửa tay với nước và xà phòng. Trong quá trình chăm sóc và điều trị, đôi bàn tay của nhân viên y tế rất dễ bị ô nhiễm với các tác nhân gây bệnh. Mức độ ô nhiễm phụ thuộc 7 vào loại thao tác và thời gian thực hiện thao tác trên người bệnh. Ví dụ: sau các thao tác như xoay trở người bệnh, bắt mạch, đo huyết áp, lấy nhiệt độ cơ thể, động chạm vào vai, háng người bệnh, trên đôi tay sẽ có 100 đến 1000 khuẩn lạc Klebsiella SPP.
Sau các hoạt động như tiêm, truyền tĩnh mạch, chăm sóc đường thở, sau khi tiếp xúc với các chất bài tiết của người bệnh, trên dôi tay sẽ có 300 đơn vị khuẩn lạc (UFs). Thời điểm vệ sinh tay [54] Hình 1. Năm thời điểm phải vệ sinh tay và quy trình rửa tay thường quy Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra 5 thời điểm vệ sinh tay hướng đến tăng mức độ tuân thủ toàn cầu đối với thực hành vệ sinh tay hiệu quả, giảm bớt gánh nặng của bệnh nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe [54]. Trước khi tiếp xúc với người bệnh: Nhằm ngăn ngừa lây truyền vi khuẩn từ khu vực chăm sóc y tế sang bệnh nhân, bảo vệ bệnh nhân khỏi sự xâm lấn của vi khuẩn thường trú và 8 chống lại nhiễm khuẩn ngoại sinh do các tác nhân gây hại trên bàn tay NVYT.
Cụ thể: - Trước khi thực hiện các thăm khám trên người bệnh - Trước khi hỗ trợ BN trong các hoạt động chăm sóc cá nhân - Trước khi chăm sóc và thực hiện các thao các không xâm lấn khác Trước khi làm thủ thuật vô trùng: Chỉ định này được thực hiện ngay lập tức trước khi tiếp cận vị trí quan trọng có nguy cơ nhiễm khuẩn cho BN, đối với bất kỳ thủ thuật nào có liên quan đến tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với niêm mạc, vùng da không lành lặn hay dụng cụ y tế có xâm lấn. Cụ thể: - Trước khi thay băng vết thương có hoặc không có dụng cụ, tiêm, chọc dò qua da - Trước khi thăm khám âm đạo hay trực tràng bằng tay, đặt thuốc âm đạo, khám tai mũi họng có hoặc không có dụng cụ - Trước khi đặt 1 thủ thuật xâm lấn (cannula mũi, cathete, ống thông tiểu…) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể Vệ sinh tay cần được thực hiện ngay khi kết thúc thao tác có nguy cơ phơi nhiễm dịch tiết và sau khi tháo găng. Nhằm bảo vệ NVYT tránh sự xâm nhập của vi khuẩn thường trú hoặc nhiễm các tác nhân từ BN và bảo vệ môi trường chăm sóc y tế khỏi sự lây lan tiềm ẩn. Cụ thể: 9 - Sau khi tiếp xúc với da không lành lặn - Sau khi tháo bỏ 1 dụng cụ xâm lấn - Sau khi tháo tã lót, băng vết thương, gạc, khăn vệ sinh… - Sau khi làm sạch chất bài tiết và bất kỳ dịch cơ thể khác, bề mặt bị lây nhiễm và vật liệu bị vấy bẩn… Sau khi tiếp xúc với người bệnh - Sau khi thực hiện các thăm khám trên người bệnh - Sau khi hỗ trợ BN trong các hoạt động chăm sóc cá nhân - Sau khi chăm sóc và thực hiện các thao các không xâm lấn khác Sau khi tiếp xúc với các bề mặt xung quanh người bệnh Nhằm bảo vệ NVYT khỏi sự xâm nhập của các mầm bệnh từ BN.
Các mầm bệnh này hiện diện trên bề mặt, vật thể trong môi trường xung quanh BN. - Sau khi thay khăn trải giường, lau dọn bàn cạnh giường - Sau hoạt động chăm sóc, chỉnh dịch truyền, tắt chuông báo động monitor - Sau những tiếp xúc khác với bề mặt và vật thể khác 1. Quy trình vệ sinh tay thường quy - Bước 1: Làm ướt tay bằng nước và xà phòng/3 ml chế phẩm chứa cồn. Chà hai lòng bàn tay vào nhau.
10 - Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại. - Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay. - Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay này vào lòng bàn tay kia. - Bước 5: Xoay ngón tay cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (làm sạch ngón tay cái) - Bước 6: Xoay các đầu ngón tay của tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại.
Làm sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và lau khô đối với vệ sinh tay bằng nước và xà phòng. Chà sát tay đến khi tay khô đối với vệ sinh tay bằng chế phẩm chứa cồn.