Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về vệ sinh tay Vệ sinh tay: Một thuật ngữ chung đề cập đến bất kỳ hành động làm sạch tay nào như VST bằng xà phòng thường và nước, VST bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng cồn, dung dịch có chứa cồn (2). Các sản phẩm vệ sinh tay - Xà phòng khử khuẩn: là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn. - Xà phòng thường: là chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn.
- Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn: là chế phẩm vệ sinh tay dạng dung dịch, dạng gel hoặc dạng bọt chứa cồn isopropanol, ethanol hoặc n – propanol, hoặc kết hợp hai trong những thành phần này hoặc với một chất khử khuẩn và được bổ xung chất làm ẩm, dưỡng da, được sử dụng bằng cách chà tay cho tới khi cồn bay hơi hết không sử dụng nước (2). Quy định vệ sinh tay thường quy trong công tác chăm sóc và điều trị người bệnh Vệ sinh tay là bất kỳ một hành động nào khi chăm sóc y tế, cần phải làm sạch bàn tay với dung dịch chứa cồn hay rửa tay với xà phòng và nước nhằm giảm hay hạn chế sự phát triển của vi sinh vật trên tay (1). Quy định thời điểm cần vệ sinh tay theo WHO (1): 1). Trước khi tiếp xúc với người bệnh 2).
Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn 3). Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân 4). Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể người bệnh 5). Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân Dựa trên tên hướng dẫn của WHO, Bộ Y tế đã ra Quyết định số: 3916/QĐ – BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế, quy định, hướng dẫn, thực hành VST trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong đó có quy định về thời điểm VSTTQ, kỹ thuật VSTTQ và thời gian VSTTQ như sau (2): 5 - Mọi đối tượng trực tiếp chăm sóc người bệnh (NB) cần rửa tay bằng nước và xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn vào những thời điểm sau: + Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB.
+ Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn. + Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể NB. + Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB. + Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh.
Đồng thời Bộ Y tế bắc buộc phải tuân thủ kỹ thuật VSTTQ dù VST bằng xà phòng thường và nước hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn cần thực hiện kỹ thuật VSTTQ theo thứ tự 6 bước (2). Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau. Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại. Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón.
Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại (mu tay để khum khớp với lòng bàn tay). Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòng bàn tay ôm lấy ngón cái). Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. + Tuân thủ đúng thời gian VST: Thời gian VST theo quy trình 6 bước của Bộ Y tế phải đạt từ 20 giây - 30 giây đối với dung dịch VST có chứa cồn/cồn, 30 giây - 45 giây đối với VST bằng nước và xà phòng thường.
Quy trình 6 bước vệ sinh tay thường quy của Bộ Y tế 1. Vai trò của vệ sinh tay đối với nhiễm khuẩn bệnh viện Vệ sinh tay làm giảm nhiễm khuẩn ở bệnh nhân và nhân viên y tế. Nghiên cứu can thiệp của Semmelweis thực hiện năm 1847 khuyến cáo NVYT nên rửa tay trong dung dịch vôi khử trùng bằng clo trước mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân, sau ít tháng triển khai cho thấy tỷ lệ tử vong của sản phụ giảm 18% xuống 5% và vẫn còn thấp sau đó (1). 7 Nghiên cứu can thiệp kéo dài 8 tháng của Larson và các đồng nghiệp cho thấy tần suất nhiễm Enterococci kháng vancomycin đã giảm xuống khi nhân viên y tế cải thiện tuân thủ VST.
Chiến lược này đã mang lại những cải tiến bền vững trong thực hành vệ sinh tay (8). Một số nghiên cứu khác tại một bệnh viện huyện của Vương quốc Anh tỷ lệ nhiễm Staphylococcus aureus kháng methincilin đã giảm xuống đáng kể khi chương trình xúc tiến VST thành công, tương tự ở Úc một chương trình can thiệp tuân thủ VST đã giảm 57% các đợt nhiễm khuẩn bệnh viện (9, 10). Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ cũng cho thấy mối liên quan giữa VST và số lượng vi khuẩn có trên bàn tay, sau khi sử dụng cồn VST đúng cách, người ta thấy tỷ lệ vi khuẩn trên bàn tay của bác sĩ và y tá giảm xuống 95% đến 99%, nhân viên khác là 70% và tay của nhân viên vệ sinh cũng giảm xuống 50% (11). Gần đây, các nghiên cứu tại các khu vực lâm sàng khác nhau để đánh giá vai trò của VSTTQ của NVYT trong việc phòng ngừa NKBV, đã cho thấy tỷ lệ NKBV giảm khi NVYT tăng tỷ lệ tuân thủ VSTTQ, đặc biệt ở những khoa có nhiều thủ thuật xâm lấn như khoa cấp cứu, khoa hồi sức tích cực, ngoại khoa thì thấy tỷ lệ NKBV giảm 30% - 40% khi nhân viên thực hiện tốt VSTTQ (2).
Từ đó cho thấy bàn tay là phương tiện quan trọng làm lan truyền NKBV. Tuân thủ VSTTQ sẽ loại bỏ hầu hết các vi khuẩn (VK) trên bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn ngừa lan truyền VK từ NB này sang NB khác, từ NB sang dụng cụ y tế và NVYT, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một NB và từ NVYT sang người bệnh. Vì vậy VSTTQ đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa NKBV, cũng là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV, đồng thời cũng bảo đảm an toàn cho NVYT trong công tác chăm sóc và điều trị cho NB (2, 12). Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy 1.
Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy trên thế giới Tổ chức Y tế thế giới coi vệ sinh tay như một công cụ cần thiết cho công tác phòng chống nhiễm trùng bệnh viện, việc tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trong công tác thăm khám chăm sóc người bệnh có thể phòng ngừa được NKBV, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện lên tới 40% (13). Hiện nay trên thế giới đã có nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau tại các BV để đánh giá tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT trong công tác chăm sóc và điều trị bệnh. Một nghiên cứu quan sát trong khoảng thời gian hai tuần tại Bệnh viện Đại học Tây Ấn, trong tổng số 270 cơ hội VSTTQ đã được quan sát, tỷ lệ tuân thủ chung là 38,9%. Không có sự khác biệt đã được quan sát giữa các NVYT hoặc thâm niên khác nhau (14).
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học chuyên khoa Hiwot Fana, miền đông Ethiopia năm 2018 quan sát 110 y tá thực hành vệ sinh tay với tổng số 3902 cơ hội vệ sinh tay thì chỉ có 732 cơ hội tuân thủ vệ sinh tay với tỷ lệ 18,7%, trong đó cơ hội tuân thủ vệ sinh tay cao nhất là trước các thực hành vô khuẩn với 22,9%. Và một nghiên cứu quan sát có can thiệp tại bệnh viện Nigeria với 1476 cơ hội vệ sinh tay của 311 nhân viên y tế trong vòng một năm, thì thấy tỷ lệ cải thiện vệ sinh tay với mức tăng 33% tuân thủ có hội trước khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể, 18% sau khi tháo găng tay, 39% sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, 17% trước khi thực hiện các thủ thuật vô khuẩn và 30% trước khi tiếp xúc với bện nhân. Như vây việc can thiệp sẻ mang lại hiệu quả thiết thực cho việc tuân thủ VSTTQ của nhân viên y tế (15). Một nghiên cứu khác tại bệnh viện giảng dạy ở Kuwait năm 2013, tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung của nhân viên y tế là 42,9%, trong đó tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của y tá là 49,9% (16).
Tại Thụy Sỹ, Pitte và cộng sự thực hiện một nghiên cứu từ năm 1995 – 1997 cho thấy 48% điều dưỡng tuân thủ VSTTQ và sau 3 năm có chương trình can thiệp thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ tăng lên 60%, nghiên cứu cũng đưa ra các chỉ số đánh giá: tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện và mức độ tiêu thụ dung dịch VSTTQ chứa cồn (17). Một nghiên cứu tại bệnh viện đại học ở bang Rio Grande do Sul cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST chung là 54,2%, trong đó tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của các y tá cao hơn các bác sĩ, tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của y tá là 66,6% và tỷ lệ tuân thủ VSTTQ bác sĩ 41,3% (18). Một nghiên cứu về Nhiễm trùng 9 Clostridium difficile trong chăm sóc sức khỏe liên quan tới vai trò của vệ sinh tay đúng cách trong kiểm soát nhiễm trùng chéo, đã chứng minh rằng việc nhân viên y tế tuân thủ vệ sinh tay thường quy đúng cách là một biện pháp quan trọng trong việc ngăn chặn nhiễm trùng chéo Clostridium difficile bất kể tuổi tác và loại khoa mà bệnh nhân nhập viện (19). Mặc dù thời gian qua có nhiều nghiên cứu đã chứng minh về việc tuân thủ VSTTQ của nhân viên y tế liên quan đến NKBV, việc tuân thủ vệ sinh tay thường quy thì hạn chế được sự lây lan vi khuẩn làm giảm nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc y tế, giảm sử dụng kháng sinh.
Tuy nhiên tỷ lệ VSTTQ của nhân viên y tế vẫn còn thấp, theo đánh giá của WHO, việc tuân thủ các điều kiện vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế trung bình chỉ đạt 37,8% (12). Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy tại Việt Nam Từ năm 1996 đến nay việc tuân thủ VSTTQ của NVYT được quan tâm nhiều hơn trong công tác KSNK của bệnh viện, do đó đã có nhiều nghiên cứu về việc tuân thủ VSTTQ của NVYT trong công tác chăm sóc và điều trị cho người bệnh.