ĐẶT VẤN ĐỀ Bàn tay là phương tiện quan trọng làm lây lan nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV). Vệ sinh tay (VST) giúp loại bỏ hầu hết vi sinh vật vãng lai có trên bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn ngừa lây lan tác nhân nhiễm khuẩn từ người bệnh (NB) này sang người bệnh khác, từ người bệnh sang nhân viên y tế (NVYT), từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một người bệnh và từ NVYT sang người bệnh. Vệ sinh tay thường quy là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn. Đánh giá hiệu quả VST tại bệnh viện Bạch Mai (2007) cho thấy VST bằng xà phòng hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong 30 giây có thể loại bỏ được > 90% vi khuẩn ở các đầu ngón tay NVYT (2).
Tăng tỷ lệ tuân thủ VST góp phần làm giảm tỷ lệ NKBV. Một nghiên cứu tại Thụy Sỹ cho thấy khi tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn 9,9%. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn từ 2007 - 2012, khi tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 20,5% lên 77,8% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 9,6% xuống còn 4,3% (3). Đánh giá tuân thủ VST quan trọng với mọi cơ sở y tế, giúp các đơn vị theo dõi hiệu quả của chương trình VST, lập kế hoạch cải tiến quy trình VST giúp duy trì, cải thiện tuân thủ vệ sinh tay.
Khảo sát tại 10 bệnh viện ở phía Bắc năm 2005 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST ở NVYT là 13,4% (4). Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu tại các bệnh viện cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST ở các cơ sở KBCB đã cải thiện đáng kể có sự khác nhau giữa các bệnh viện: tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tại bệnh viện Đại học Y dược Huế (2014) là 75%, bệnh viện Đa khoa khu vực Long Khánh (2015) là 57,6%. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ VST ở NVYT gồm thiếu phương tiện, thiếu kiến thức, thiếu NVYT (quá tải), thiếu kiểm tra giám sát và thiếu các biện pháp tạo dựng thói quen VST. 2 Bệnh viện Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện đa khoa hạng II triển khai nhiều dịch vụ kỹ thuật phức tạp đòi hỏi công tác KSNK phải được chú trọng, trong đó có vấn đề VST của NVYT.
Hiện tại, bệnh viện Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đánh giá tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế bằng phương pháp Giám sát trực tiếp, nhân viên khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn quan sát tại các khoa, tỷ lệ này năm 2020 là 73,5%. Tuy nhiên nhân viên giám sát quan sát theo cơ hội vệ sinh tay thuận tiện, không tính cỡ mẫu, không quan sát cơ hội theo từng nhân viên y tế, chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự tuân thủ VST của NVYT, cũng như tìm những yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ VST. Với những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu Tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa điều trị nội trú bệnh viện Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Từ đó giúp nhà quản lý bệnh viện có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề tuân thủ VST của NVYT qua đó xây dựng chương trình can thiệp làm gia tăng tuân thủ VST phù hợp với bệnh viện.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa điều trị nội trú bệnh viện Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa điều trị nội trú bệnh viện Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. TỔNG QUAN TÀ I LIỆU 1.
Một số khái niệm về vệ sinh tay Hướng dẫn thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban hành theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế đưa ra một số khái niệm về vệ sinh tay: Định nghĩa vệ sinh tay Là một thuật ngữ chung để chỉ việc hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (5). Xà phòng khử khuẩn: Là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn (5). Xà phòng thường: Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn (5). Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn: Là chế phẩm vệ sinh tay dạng dung dịch, dạng gel hoặc dạng bọt chứa cồn isopropanol, ethanol hoặc n-propanol, hoặc kết hợp hai trong những thành phần này hoặc với một chất khử khuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da; được sử dụng bằng cách chà tay cho tới khi cồn bay hơi hết, không sử dụng nước (5).
Vệ sinh tay thường quy: gồm Vệ sinh tay với xà phòng và nước và Vệ sinh tay chứa cồn. Vai trò của vệ sinh tay thường quy trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 1. Phổ vi khuẩn trên bàn tay của nhân viên y tế Năm 1938, Price P.B chia vi khuẩn trên da bàn tay làm 2 nhóm: Vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư. Vi khuẩn định cư: là những vi khuẩn hội sinh thường trú trên bàn tay của nhân viên y tế, người bệnh, thân nhân, khách thăm.
Gồm các cầu khuẩn gram (+): S. và các vi khuẩn gram (-): Acinetobacter, Enterobacter. Các vi khuẩn định cư có độc tính thấp, ít khi gây nhiễm trùng qua các 5 tiếp xúc thông thường, song chúng có thể gây độc tính qua các thủ thuật xâm lấn vào người bệnh. Các vi khuẩn gram (-) thường chiếm tỷ lệ cao ở tay NVYT thuộc đơn vị hồi sức cấp cứu, đặc biệt ở những người VST dưới 8 lần/ngày.
Phổ vi khuẩn định cư thường cư trú ở lớp sâu của biểu bì da. VST thường quy không loại bỏ được các vi khuẩn này khỏi bàn tay nhưng VST thường xuyên có thể làm giảm mức độ định cư của vi khuẩn trên tay. Để loại bỏ các vi khuẩn này trên da tay trong VST ngoại khoa, các thành viên kíp phẫu thuật cần VST bằng dung dịch VST chứa cồn hoặc dung dịch xà phòng chứa chlorhexidine 4% trong thời gian tối thiểu 3 phút. Vi khuẩn vãng lai: là các vi khuẩn trên da NB hoặc trên các bề mặt môi trường bệnh viện (chăn, ga giường, dụng cụ phương tiện phục vụ NB) và làm ô nhiễm bàn tay trong quá trình chăm sóc và điều trị.
Mức độ ô nhiễm bàn tay phụ thuộc vào loại thao tác sạch/bẩn, thời gian thực hiện thao tác và tần suất VST của NVYT (5). Phổ vi khuẩn vãng lai là thủ phạm chính gây NKBV, tuy nhiên phổ vi khuẩn này có thể loại bỏ dễ dàng bằng VST thường quy (rửa tay với nước và xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong thời gian 20 giây-30 giây). Do vậy, VST trước và sau tiếp xúc với mỗi NB là biện pháp quan trọng nhất trong phòng ngừa NKBV. VST trước phẫu thuật cần loại bỏ cả hai phổ vi khuẩn vãng lai và định cư, do vậy cần áp dụng quy trình VST ngoại khoa.
Bằng chứng lan truyền tác nhân gây bệnh qua bàn tay của nhân viên y tế Lan truyền tác nhân nhiễm khuẩn từ NB này sang NB khác qua bàn tay NVYT cần một chuỗi các yếu tố, gồm: Vi sinh vật (VSV) có trên da NB hoặc trên bề mặt đồ dùng, vật dụng xung quanh NB truyền vào tay NVYT; Tiếp theo, NVYT không VST hoặc VST không đúng quy trình hoặc sử dụng hóa chất VST không thích hợp, Cuối cùng, bàn tay bị ô nhiễm của NVYT phải tiếp xúc trực tiếp NB khác hoặc gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị sử dụng trên NB. Trong môi trường bệnh viện, mọi nơi bàn tay đụng chạm vào đều có vi khuẩn trên đó. Các tác nhân NKBV không chỉ có ở các vết thương nhiễm khuẩn, ở chất thải và dịch tiết của NB mà thường xuyên có trên da lành của NB. Lượng vi khuẩn (ví dụ: S.
epiderminis, Proteus mirabilis, Klebsiella spp. và Acinetobacter spp.) có ở 1cm2 6 da lành của NB thay đổi từ 102 đến 106 vi khuẩn, nhiều nhất là ở vùng bẹn, vùng hố nách, vùng nếp khuỷu tay, bàn tay. Có 25% da người bình thường mang S.aureus, da người mắc bệnh tiểu đường, NB lọc máu chu kỳ và người viêm da mãn tính có S. aureus định cư cao hơn.
Các tác nhân gây bệnh này, đặc biệt là các chủng tụ cầu hoặc cầu khuẩn đường ruột có khả năng sống sót cao trong điều kiện môi trường khô, làm ô nhiễm quần áo, ga giường, đồ dùng cá nhân và bề mặt các phương tiện khác trong buồng bệnh (5). Trong quá trình chăm sóc NB, bàn tay NVYT thường xuyên bị ô nhiễm VSV có ở trên da NB cũng như ở bề mặt môi trường bệnh viện. Theo Lê Thị Anh Thư và cộng sự (Bệnh viện Chợ Rẫy), lượng vi khuẩn trung bình có ở bàn tay NVYT là 5,4 log, cao nhất ở hộ lý, kế đến là bác sỹ và thấp nhất là điều dưỡng. Thời gian thao tác càng dài thì mức độ ô nhiễm bàn tay càng lớn (6).
Vai trò của vệ sinh tay thường quy trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Đánh giá hiệu quả VST tại bệnh viện Bạch Mai (2007) cho thấy VST bằng xà phòng hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong 30 giây có thể loại bỏ được > 90% vi khuẩn ở các đầu ngón tay NVYT (2). Một nghiên cứu ở Thụy Sỹ từ năm 1994 đến 1997 trên 20000 cơ hội vệ sinh tay của NVYT tại BV Geneva đã cho thấy: tỷ lệ tuân thủ của NVYT tăng từ 48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9% (1997) (3). Tại Việt Nam, theo nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn từ 2007 - 2012, khi tỷ lệ tuân thủ VST của nhân viên y tế tăng từ 20,5% lên 77,8% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 9,6% xuống còn 4,3% (7).
Tại bệnh viện Bạch Mai kết quả cho thấy tỷ lệ NKBV giảm từ 1. Bàn tay là phương tiện quan trọng làm lan truyền NKBV. VST giúp loại bỏ hầu hết VSV có ở bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn ngừa lan truyền tác nhân nhiễm khuẩn 7 từ NB này sang NB khác, từ NB sang dụng cụ và NVYT, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một NB và từ NVYT sang NB.