ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cố y khoa (SCYK) là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh (NB), tác động tới sức khỏe, tính mạng của NB (1). SCYK là nguyên nhân của khủng hoảng niềm tin ở NB, NB không hài lòng, chi phí y tế cao, hành hung NVYT. Do đó, báo cáo SCYK là một công cụ quan trọng trong việc nâng cao an toàn người bệnh, hạn chế tối đa, đồng thời ngăn chặn những sự cố không mong muốn, đảm bảo an toàn cho công tác khám chữa bệnh. Tuy nhiên, kiến thức, thái độ và thực hành báo cáo SCYK của NVYT còn hạn chế và còn nhiều rào cản.
Một nghiên cứu tại Bệnh viện quận Thủ Đức (2017) cho thấy tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về báo cáo SCYK là 10,4%, tỷ lệ NVYT có thực hành đúng là 25,7% (2), Bệnh viện Da liễu Trung ương (2019) tỷ lệ thực hành báo cáo SCYK trong 6 tháng chỉ là 17,3% (3). Nghiên cứu của Lauris C.Kaldjian và các cộng sự (2008) tại khu vực tây giữa Đại Tây Dương và đông bắc Hoa Kỳ cho thấy chỉ có 17,8% NVYT báo cáo SCYK gây mức độ tổn thương nhẹ hoặc trung bình, 3,8% NVYT báo cáo SCYK gây mức độ tổn thương nghiêm trọng (4). Một nghiên cứu tại Úc (2013) chỉ ra kiến thức về báo cáo SCYK khác nhau giữa các nhóm NVYT và điều dưỡng thực hành báo cáo SCYK được cho là tốt hơn các nhóm NVYT khác. Rào cản được nhắc đến nhiều nhất đối với việc thực hành báo cáo SCYK của NVYT là kiến thức về báo cáo SCYK, quy trình báo cáo SCYK chưa đạt và tâm lý lo sợ khi thực hiện báo cáo (5).
Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quy trình báo cáo SCYK, chương trình và tài liệu an toàn NB. Nhìn chung, quy trình báo cáo SCYK và đảm bảo an toàn cho NB vẫn còn mới và trong quá trình hoàn thiện. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế. Năm 2019, Bệnh viện đã xây dựng và ban hành quy trình quản lý và báo cáo SCYK (ban hành kèm theo Quyết định số 398/QĐ-BVĐK ngày 01/3/2019 của Giám đốc BVĐK tỉnh).
Bệnh viện đã tập huấn cho toàn bộ NVYT quy trình báo cáo SCYK được 01 lần. Theo báo cáo ghi nhận của phòng Quản lý chất lượng bệnh viện, năm 2 2019 bệnh viện có 35 trường hợp SCYK được báo cáo, năm 2020 bệnh viện chỉ có 17 SCYK được báo cáo. Để nâng cao chất lượng bệnh viện, đảm bảo an toàn NB, thì các SCYK cần được công khai, báo cáo và phân tích một cách đầy đủ, khoa học, giúp ngăn chặn những sự cố không mong muốn xảy ra. Trước thực tế đó, câu hỏi được đặt ra: hiện nay kiến thức, thái độ và thực hành báo cáo SCYK của NVYT tại bệnh viện như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực hành báo cáo của NVYT? Làm thế nào để khắc phục những yếu tố cản trở việc thực hành báo cáo SCYK ở NVYT? Để trả lời cho những câu hỏi trên và có thêm bằng chứng tin cậy đề xuất các giải pháp nâng cao thực hành báo cáo SCYK của NVYT tại bệnh viện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2020 và một số yếu tố ảnh hƣởng”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2020. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cương về sự cố y khoa 1. Định nghĩa Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), sự cố y khoa là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế (6). Tại Việt Nam, Bộ y tế sử dụng định nghĩa sự cố y khoa (Adverse Event) là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh (1). Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố (near – miss) là tình huống đã xảy ra nhưng chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe người bệnh (1).
Nguyên nhân gốc là nguyên nhân ban đầu có mối quan hệ nhân quả trực tiếp dẫn đến việc xảy ra sự cố y khoa, nguyên nhân gốc có thể khắc phục được để phòng ngừa sự cố y khoa (1). Phân loại sự cố y khoa Tùy theo mục đích mà có các cách phân loại SCYK khác nhau: Phân loại SCYK theo mức độ tổn thương (1): - SCYK chưa xảy ra (NC0): Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố (near miss) - Tổn thương nhẹ (NC1): Sự số đã xảy ra, chưa tác động trực tiếp đến người bệnh; sự cố đã xảy ra tác động trực tiếp đến người bệnh, chưa gây nguy hại; sự cố đã xảy ra tác động trực tiếp đến người bệnh, cần phải theo dõi hoặc đã can thiệp điều trị kịp thời nên không gây nguy hại. - Tổn thương trung bình (NC2): Sự cố đẫ xảy ra gây nguy hại tạm thời và cần phải can thiệp điều trị; sự cố đã xảy ra, gây nguy hại tạm thời, cần phải can thiệp điều trị và kéo dài thời gian nằm viện. - Tổn thương nặng (NC3): Sự cố đã xảy ra gây nguy hại kéo dài, để lại di chứng; sự cố đã xảy ra gây nguy hại cần phải hồi sức tích cực; sự cố đã xảy ra có ảnh hưởng hoặc trực tiếp gây tử vong.
5 Phân loại SCYK theo mức độ nguy hại (7): - Ảnh hưởng đến người bệnh: Khuyến khích báo cáo khi phát hiện các SCYK chưa xảy ra, đã xảy ra, không gây hại; bắt buộc phải báo cáo khi phát hiện các SCYK đã xảy ra, có gây hại, đã xảy ra, tổn thương nặng hay tử vong - Ảnh hưởng trên tổ chức: gồm các sự cố tổn hại tài sản; tăng nguồn lực phục vụ cho người bệnh; quan tâm của truyền thông; khiếu nại của người bệnh; tổn hại dan tiếng; pháp luật vào cuộc. (Chi tiết xin xem tại Phụ lục 6) Phân loại SCYK theo đặc điểm chuyên môn (7): - Nhầm tên người bệnh. - Thông tin bàn giao không đầy đủ. - Nhầm lẫn liên quan tới các thuốc có nguy cơ cao.
- Nhiễm trùng bệnh viện. - Người bệnh ngã. Hiện nay, các cơ sở y tế vẫn đang sử dụng hai tài liệu chính của Bộ Y tế ban hành về phòng ngừa và báo cáo SCYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh được Bộ Y tế ban hành năm 2014 với nội dung nhằm cung cấp các kiến thức hiểu biết về tần suất các sai sót chuyên môn, SCYK, các nguyên nhân và các giải pháp để hạn chế các sai sót chuyên môn và SCYK tới mức thấp nhất có thể (6).
Đến năm 2018, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/2018/TT-BYT hướng dẫn phòng ngừa SCYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nội dung chính nhằm hướng dẫn việc báo cáo SCYK, phân tích, phản hồi và xử lý SCYK; khuyến cáo, cảnh báo và khắc phục để phòng ngừa SCYK và trách nhiệm thực hiện của từng bộ phận (7). Ngoài ra, trong Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (phiên bản 2.0), trong đó tại chương D2 có 05 tiêu chí đánh giá phòng ngừa các sự cố và khắc phục SCYK/83 tiêu chí để đánh giá, chấm điểm chất lượng bệnh viện hàng năm của Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 6858/QĐ- BYT ngày 18/11/2016 (8). Tác động của sự cố y khoa Theo báo cáo của WHO (2019), trên thế giới, hàng năm có ít nhất 7 triệu người trải qua biến chứng phẫu thuật và 1 triệu người trong số đó dẫn đến tử vong. Mặc dù tỷ lệ tử vong liên quan đến phẫu thuật và gây mê đã giảm dần trong 50 năm gần đây, đặc biệt đó là kết quả của nỗ lực không ngừng nghỉ để cải thiện an toàn người bệnh nhưng nó vẫn nhiều hơn gấp 2 đến 3 lần ở các nước thu nhập thấp và trung bình so với các nước thu nhập cao.
Ở những nước đang phát triển cứ 10 người bệnh thì có 1 người bệnh bị tổn hại khi nhận dịch vụ chăm sóc tại bệnh viện. Trong một nghiên cứu về tần số và khả năng phòng ngừa SCYK từ nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại 26 nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ SCYK khoảng 8% trong đó có khoảng 83% sự cố là có thể phòng ngừa được và 30% dẫn đến tử vong (9). Các chuyên gia về y tế của Mỹ đã nhận định ―Chăm sóc y tế tại Mỹ không an toàn như người dân mong đợi và như hệ thống y tế có thể‖, số lượng người bệnh tử vong do sự cố y khoa tại các bệnh viện ở Mỹ còn cao hơn số người tử vong do tai nạn giao thông (43.458), do ung thư vú (42.297) và do HIV/AIDS (16.516) là ba vấn đề người dân Mỹ đang quan tâm nhiều (10, 11, 12). Mỗi năm tại đây có ít nhất 44.000 cái chết và 1 triệu thương tích quan tới sự cố sai sót y khoa (12).
Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ tổng thanh tra kiểm tra hồ sơ sức khỏe của bệnh viện người bệnh nội trú năm 2008, báo cáo 180.000 ca tử vong do sai sót y khoa trong một năm (11). Theo nghiên cứu của David C.Classen và các cộng sự công bố vào tháng 4/2011, 91 SCYK xảy ra trên 1.000 người bệnh và tỷ lệ SCYK tăng mỗi năm là 1,13%; Nếu tỷ lệ này được áp dụng cho tất cả các trường hợp nhập viện ở Hoa Kỳ vào năm 2013 làm cho hơn 400.000 người chết mỗi năm, hơn bốn lần ước tính của Tổ chức di cư quốc tế (International Organization for Migration – IOM) (13) (14).