Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ 1. Khái niệm kỹ năng KN là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nước quan tâm. Ở các góc độ khác nhau, các tác giả có các quan niệm khác nhau về KN: kĩ năng được xem là mặt kĩ thuật của hành động; là khả năng của cá nhân; ở một bình diện khác, kĩ năng là hành vi ứng xử. Quan niệm thứ nhất: Coi KN là mặt kỹ thuật thao tác hành động hay hoạt động.
Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như: Ph. Các tác giả này cho rằng, muốn thực hiện được một hành động cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn là ta đã có KN hành động. Để làm rõ khái niệm KN, tác giả đã phân tích kỹ vai trò của việc luyện tập trong thực tiễn, trong hoạt động, trong quá trình hình thành kỹ năng.
Tác giả viết: Trong một số trường hợp thì KN là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành, tức là khi có tri thức con người phải áp dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, vào trong thực tiễn. Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành KN trở nên được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên được hoàn hảo hơn trước.G Covaliov quan niệm: “KN là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động” [5]. Như vậy, các quan niệm nói trên nhấn mạnh mặt kĩ thuật của KN, coi KN như là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, họ chưa nói tới kết quả hành động. 13 Quan niệm thứ hai: Coi KN không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà nó còn là khả năng của cá nhân trong hoạt động.
KN theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích. Đại diện cho quan niệm này là các tác giả: N.Levitov cho rằng: KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định. Như vậy, ông chú ý đến kết quả hành động với nghĩa là phải biết chọn cách hành động đúng đắn, phù hợp với các điều kiện cho phép, dẫn theo [27].Platônôv thì người có KN không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau. Do vậy, theo ông “KN là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm- những cái đã được lĩnh hội từ trước.
Hay nói cách khác KN được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo”, dẫn theo[2, tr97].Pêtrôvski quan niệm: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định, được gọi là các KN”, dẫn theo [2,tr149]. Quan niệm của các nhà giáo dục Việt Nam như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn cũng tương tự như quan niệm của các tác giả nói trên. Trong Từ điển tiếng Việt, KN được định nghĩa theo quan điểm thứ hai như sau: “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”, dẫn theo [2,tr517]. Như vậy theo khuynh hướng này, KN không chỉ được hiểu là kĩ thuật mà còn đem lại kết quả cho hoạt động.
Đây là quan niệm tương đối toàn diện và khái quát về KN. Tuy nhiên, các tác giả chưa quan tâm phân tích về mặt thao tác, hành động của KN. 14 Quan niệm thứ ba: Coi KN là hành vi ứng xử. Trong vài năm gần đây, một cách tiếp cận khá mới mẻ về kĩ năng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý.
Kĩ năng được coi là hành vi ứng xử của cá nhân. KN không chỉ là kĩ thuật hành động, là kết quả của hành động mà còn là thái độ, giá trị của cá nhân đối với hoạt động. Cách tiếp cận này tương đối toàn diện, xem xét KN trong sự liên kết giữa tri thức, kinh nghiệm, phương thức hành động với các giá trị thái độ, chuẩn mực, động cơ hành động của cá nhân. Đây là một quan niệm đáng quan tâm và phù hợp với KN nghề nghiệp.
Tuy nhiên, coi KN là hành vi, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến mặt kĩ thuật của nó. Hiểu KN theo cách này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc đào tạo KN và thiết kế các công cụ đo lường đánh giá chúng. Bất kỳ KN về một hoạt động nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết. Cơ sở lý thuyết đó là kiến thức.
Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc của KN (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó). Nói cách khác, có KN con người mới sử dụng được tri thức một cách tự giác và có chủ định, mới biết lựa chọn các biện pháp cần thiết, phù hợp với từng hoàn cảnh và vận dụng các biện pháp đó vào hoạt động để đạt mục đích. Nhìn chung khi xem xét KN ta phải lưu ý những điểm sau: Thứ nhất: KN trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định. KN không có đối tượng riêng, đối tượng của KN là đối tượng của hoạt động, hành động.
Không có KN chung chung, trừu tượng tách rời hành động. Khi nói tới KN là nói tới một hành động cụ thể đạt tới mức đúng đắn và thành thục nhất. KN hành động đồng nghĩa với hành động có KN. Thứ hai: Cơ chế hình thành KN thực chất là cơ chế hình thành hành động.
Mỗi hành động bao giờ cũng có mục đích. Lôgic thao tác làm nên mặt kỹ thuật của hành động. Việc hình thành KN hành động là hình thành ở con người khả 15 năng triển khai thao tác theo đúng lôgic phù hợp với mục đích khách quan. Việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành KN được quy định bởi sự định hướng, điều khiển và điều chỉnh quá trình hình thành và củng cố hành động.
Thứ ba: KN là mức độ cao của tính đúng đắn, thành thục và tính sáng tạo của việc triển khai hành động trong thực tiễn. Đúng đắn, thành thục và sáng tạo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của KN hành động. Hành động chưa thể có KN nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về, hành động còn tiêu tốn nhiều thời gian, công sức triển khai nó và hành động còn cứng nhắc mang tính dập khuôn. Vì vậy, để có KN hành động cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, cơ chế, điều kiện hành động) mà chủ yếu phải mềm dẻo và linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh của hành động.
KN luôn được nhận thức. Thứ tư: KN là sản phẩm của hoạt động thực tiễn. Đó là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt mục đích đã đề ra. Từ những quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận: KN là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn để thực hiện có kết quả hành động đó.
Xem xét KN không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật hành động mà còn là khả năng của chủ thể hành động. Như vậy, người có KN hành động trong một lĩnh vực hoạt động nào đó được biểu hiện ở những dấu hiệu sau: + Kĩ năng được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân. + KN là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm và các giá trị phù hợp với điều kiện hoạt động. + Sự vận dụng KN phải đem lại kết quả cho hoạt động.
+ Có thể thực hiện hành động, hoạt động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi. Nghĩa là, KN đòi hỏi con người phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết về hành động. KN chỉ có được khi con người vận dụng những tri thức kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn một cách có kết quả. Cơ chế tâm lý hình thành kỹ năng Để nắm vững bất kỳ KN nào con người không chỉ suy nghĩ về mục đích hoạt động của mình mà còn lĩnh hội các biện pháp và nắm vững phương tiện áp dụng thực tế các tri thức đã có một cách có ý thức.
Kiến thức về cách thức hành động trong các điều kịên nhất định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để nắm vững KN. Cơ chế hình thành KN, kỹ xảo thực chất là cơ chế hình thành hành động và luyện tập hành động đó trong các điều kiện khác nhau. Trong các lí thuyết mô tả cơ chế hình thành hành động, lý thuyết hoạt động của A.N Lêônchiev và lí thuyết hình thành các hành động trí tuệ theo giai đoạn của P.I Ganpêrin có giá trị lí luận và thực tiễn. Đứng trên lập trường của tâm lý học Mác-xít, khẳng định sự hình thành tâm lý, ý thức con người là quá trình chuyển hóa hoạt động từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong.N Lêônchiev đã đưa ra cấu trúc hoạt động gồm: Hoạt động ↔ Động cơ ↕ ↕ Hành động ↔ Mục đích ↕ ↕ Thao tác ↔ Phương tiện.
Ông nhấn mạnh, hành động là đơn vị của hoạt động và muốn hình thành hoạt động thì trước hết phải hình thành hành động. Hành động được cấu thành từ thao tác, đồng thời hành động sẽ trở thành thao tác khi nó chuyển hóa phương thức để thực hiện mục đích của hành động khác [15].N Lêônchiev đã góp phần làm rõ cấu trúc của hoạt động và khẳng định sự thống nhất giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong. Tuy nhiên, nó chưa chỉ ra cơ chế chuyển hóa giữa hai hình thái hoạt động. Lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn của P.I Ganpêrin đã khắc phục được sự thiếu hụt này.I Ganpêrin, một hành động được thực hiện bao giờ cũng có hai phần, phần định hướng và phần thực hiện.
Trong đó phần định hướng quyết định chất lượng của hành động.