Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về SKTT của BNUT trong độ tuổi lao động - Chương 2: Cơ sở lý luận về SKTT của BNUT trong độ tuổi lao động - Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn - Kết luận và kiến nghị 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN UNG THƢ TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu tâm lý học, sinh lý học và y học, vấn đề SKTT của BNUT chủ yếu tập trung ở việc đánh giá mức độ của vấn đề tâm lý xã hội hoặc nhắc đến vấn đề SKTT trong khái niệm rộng hơn về chất lượng của cuộc sống của đối tượng này. Thực tế cho thấy, một căn bệnh đe dọa đến tính mạng như bệnh ung thư thường được dự kiến sẽ tạo ra sự đau khổ tâm lý đáng kể cho những người mắc bệnh cũng như người thân của bệnh nhân. Tuy nhiên, nếu phản ứng cảm xúc đối với chẩn đoán ung thư trở thành bệnh lý, nó có thể gây ảnh hưởng đến nhiều vấn đề của người bệnh như sự thoải mái, chất lượng cuộc sống, khả năng đưa ra quyết định điều trị phù hợp và tuân thủ điều trị [115]. Vì vậy, để việc điều trị cũng như ổn định tâm lý cho bệnh nhân đúng cách, điều cần thiết là phải nhận thức được tình trạng SKTT ở BNUT.
Theo đó, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi có thể dẫn ra những nghiên cứu chính liên quan đến vấn đề SKTT của BNUT như sau: 1. Nghiên cứu về các vấn đề sức khoẻ tâm thần của bệnh nhân ung thƣ Hiện nay, bệnh ung thư đang được xem là nỗi ám ảnh lớn đối với toàn nhân loại. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung đang có xu hướng tăng nhanh và đáng báo động. BNUT không chỉ phải đối mặt với những nguy cơ về sức khỏe, mà còn phải chịu đựng những gánh nặng tâm lý nặng nề.
Có nhiều nghiên cứu mà chúng tôi sẽ chỉ ra dưới đây đã cho thấy rằng BNUT mắc phải rối loạn tâm thần như rối loạn lo âu, stress, trầm cảm, thậm chí dẫn đến tự tử do lo lắng quá mức và đau buồn khi biết mình bị chẩn đoán mắc căn bệnh nan y này. Về cơ bản, các rối loạn tâm thần không phải là nguyên nhân gây ra ung thư; tuy nhiên, chúng làm suy yếu hệ miễn dịch gây ra các tình trạng bệnh lý khác và làm suy giảm sức khỏe của người bệnh. Bên cạnh đó, nó cũng có thể gây trở ngại cho việc ra quyết định liên quan tới chăm sóc và điều trị của bệnh nhân ung thư. 11 Theo Weisman, quá trình của bệnh nhân mắc ung thư được phân chia thành 4 giai đoạn bao gồm: (1) chẩn đoán và điều trị; (2) thích nghi: bệnh nhân cố gắng tái tổ chức cuộc sống hàng ngày; (3) sự thuyên giảm hoặc di căn của bệnh; (4) giai đoạn cuối: không thể cứu chữa [163].
Không phải tất cả bệnh nhân đều phải trải qua các giai đoạn. Ở một số bệnh nhân có tiên lượng xấu, sau giai đoạn chẩn đoán sẽ là giai đoạn cuối. Những bệnh nhân sống sót sau ung thư chỉ trải qua giai đoạn 1 và 2. Trong các giai đoạn khác nhau, BNUT có thể trải qua một chuỗi các triệu chứng và vấn đề về tâm lý xã hội.
Tuy nhiên, hơn hầu hết các căn bệnh khác, vấn đề SKTT của người bệnh có thể xuất hiện ngay từ khi giai đoạn chẩn đoán. Bệnh nhân có thể bị choáng ngợp bởi cảm xúc tuyệt vọng, hoảng loạn và cả những cảm xúc khác; thậm chí trong những trường hợp khác, bệnh nhân có thể sẽ trải nghiệm cảm giác chán nản và thờ ơ với cường độ mạnh [41]. Cảm giác không chắc chắn, không an toàn rất thường thấy ở các BNUT, chẳng hạn như họ không tin tưởng về kết quả điều trị hoặc không có niềm tin vào tương lai sức khoẻ của bản thân [55], [132], [173]. Các triệu chứng lâm sàng khác nhau xuất hiện từ khi chẩn đoán bệnh cũng là những khía cạnh quan trọng tác động đến SKTT của BNUT.
BNUT đôi khi trải qua sự đau đớn và mệt mỏi do chịu đựng những phác đồ điều trị như hóa trị hoặc xạ trị, có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng đến thể chất cũng như tinh thần của người bệnh [106], [150]. Hầu hết các nghiên cứu về tỷ lệ rối loạn tâm thần ở BNUT chỉ giới hạn ở các rối loạn tâm thần cụ thể như trầm cảm và lo âu, và nghiên cứu này cũng đã chỉ ra một cách cụ thể tỷ lệ mắc phải các rối loạn này rơi vào từ 25% đến 50% người bệnh [48], [85], [136]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong số này đã bị chỉ trích vì lấy mẫu sai lệch, phụ thuộc vào các công cụ tự đánh giá, thiếu đánh giá hệ thống về tâm lý học và không đánh giá toàn bộ các rối loạn tâm thần [53], [65]. Trong đó, nổi bật là nghiên cứu của nhóm tác giả Derogatis et al.
(1983) – một nhóm nghiên cứu của Ấn Độ, đã đánh giá một cách có hệ thống toàn bộ phạm vi rối loạn tâm thần; các tác giả này đã tìm thấy tỷ lệ mắc phải lên đến 47% đối với các rối loạn tâm thần trong số các BNUT. 12 Mặc dù có rất nhiều công bố về sự phổ biến của các rối loạn tâm thần ở BNUT ở các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, nhưng kinh nghiệm lâm sàng và bằng chứng nghiên cứu cho thấy, ở Ấn Độ, nhiều BNUT không được thông báo về chẩn đoán và tiên lượng liên quan đến bệnh tình của họ, mặc dù người thân được thông báo chi tiết [94]. Do đó, một số bệnh nhân có thể không nhận thức được tình trạng chẩn đoán ung thư, hoặc có thể có nhận thức sai về kết quả điều trị bệnh của họ. Nhận thức về bản chất của bệnh tật và kỳ vọng về kết quả có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ rối loạn tâm thần ở BNUT.
Tuy nhiên, một nghiên cứu của nhóm tác giả P. John Alexander, Narayanakurup Dinesh & M. Vidyasagar [24], về tình trạng rối loạn tâm thần (Psychiatric Morbidity) của BNUT công bố vào năm 1993 như sau: Trong tổng số 60 bệnh nhân được đưa vào một cơ sở điều trị ung thư trong một bệnh viện đa khoa đã được tham gia vào đánh giá một cách có hệ thống để xác định tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần. Nhận thức của bệnh nhân về chẩn đoán ung thư và nhận thức của họ về ý định điều trị và kết quả điều trị được đánh giá độc lập bởi một nhà điều tra khác, người này hoàn toàn không liên quan đến những chẩn đoán tâm thần này.
Theo đó, 40% mẫu đối tượng đựa lựa chọn có chẩn đoán rối loạn tâm thần, dựa trên Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (the Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders - DSM). Có đến 8% bệnh nhân được chẩn đoán các dấu hiệu của trầm cảm nặng, chiếm 13% mẫu đối tượng. Ngoài ra, một phần ba số bệnh nhân hoàn toàn không biết về chẩn đoán ung thư của mình và 82% bệnh nhân nhận thấy phương pháp điều trị được đưa ra chỉ là thuốc chữa bệnh. Đặc biệt, các dấu hiệu rối loạn tâm thần ít phổ biến hơn một cách đáng kể ở những bệnh nhân không biết mình bị ung thư và ở những người coi điều trị là thuốc chữa bệnh.
Tỷ lệ rối loạn trầm cảm trong mẫu nghiên cứu này cao hơn ở những bệnh nhân được điều trị nội trú. Do vậy, nghiên cứu đã kết luận rằng rối loạn tâm thần, đặc biệt là rối loạn cảm xúc là phổ biến ở BNUT. Nhận thức về bản chất của bệnh và kết quả mong đợi có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tâm thần. Các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa tỷ lệ mắc 13 bệnh tâm thần và thời gian mắc bệnh, loại và giai đoạn ung thư, cũng như các chiến lược đối phó được các tác giả đề xuất sau khi kết thúc nghiên cứu này.
Với việc xem xét những kết quả nghiên cứu đã công bố như trên dưới dạng những giả thiết khoa học cần làm rõ, tác giả Naoki Nakaya (2003) đã thực hiện một nghiên cứu công phu trong đó sử dụng dữ liệu từ Dự án Cơ sở dữ liệu Ung thư Phổi tại Bệnh viện Trung tâm Ung thư Quốc gia Đông ở Nhật Bản. Từ tháng 7 năm 1999 đến tháng 7 năm 2004, 1178 bệnh nhân bị ung thư phổi đã được ghi danh. Bảng câu hỏi bao gồm các mục về đặc điểm kinh tế xã hội, tình trạng hút thuốc, triệu chứng lâm sàng và trạng thái tâm lý sau khi chẩn đoán. Tình trạng trầm cảm ở BNUT phổi được đánh giá bằng cách sử dụng thang đo lo âu và trầm cảm của bệnh viện.
Thông tin về giai đoạn lâm sàng và loại mô học được lấy từ các biểu đồ y tế. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng mối liên quan giữa trầm cảm và nguy cơ tử vong ở BNUT phổi phần lớn bị nhầm lẫn bởi các chỉ số về tình trạng lâm sàng [125]. Đối với tình trạng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (post-traumatic stress disorder – PTSD) của BNUT, các nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc PTSD ở BNUT trưởng thành chủ yếu tập trung ở BNUT vú sớm và giai đoạn khối u hỗn hợp. Nghiên cứu của Anja Mehnert và Uwe Koch (2007) đã xác định các phản ứng căng thẳng cấp tính và sau chấn thương cũng như rối loạn tâm thần hôn mê trên 127 BNUT vú.
Dựa trên phỏng vấn lâm sàng có cấu trúc, đề tài nghiên cứu đã đánh giá các phản ứng căng thẳng sau chấn thương, lo lắng và trầm cảm ở giai đoạn đầu và 6 tháng theo dõi. Theo đó, tỷ lệ mắc phải PTSD của mẫu này là 2,4% và thảo luận đánh giá nhu cầu cần tư vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội cho nhóm BNUT này ngay trong giai đoạn chẩn đoán và điều trị sớm [117].