CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về ung thư 2. Khái niệm về ung thư Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [5]. Các đặc tính cơ bản bệnh ung thư Ung thư không phải là 1 bệnh mà là nhiều bệnh, người ta biết được có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau.
Phần lớn các bệnh là tên của cơ quan hoặc loại tế bào mà bệnh khởi phát. Ví dụ, ung thư bắt đầu từ đại tràng gọi là ung thư đại tràng, ung thư bắt đầu từ tế bào hắc tố gọi là ung thư hắc tố. Tế bào ung thư với đặc điểm tổn thương đa hình thái. Nhân tế bào ung thư không đều nhau, chất màu không đều, tỷ lệ nhân trên nguyên sinh chất cao, bờ nhân không đều, hạt nhân rõ, nhiều nhân quái, nhân chia.
Nguyên sinh chất thẫm màu, kiềm tính. Tế bào ít biệt hoá, chỉ gợi lại các tế bào cơ sở bình thường ban đầu, sắp xếp hỗn độn, tế bào non chiếm ưu thế, các tế bào rất không giống nhau về khối lượng, màu sắc, hình thái [5]. Tính chất xâm lấn Khối u xâm lấn vào các tổ chức xung quanh giống như hình “con cua” với các càng cua bám chặt vào tổ chức xung quanh, phá huỷ tổ chức lành, không di động khi sờ nắn. Cũng vì thế người ta lấy biểu tượng chống ung thư là một người cầm kiếm chiến đấu với con cua.
Tính chất di căn Di căn là hiện tượng một hay nhiều tế bào ung thư di chuyển từ vị trí nguyên phát sang vị trí mới, cách vị trí nguyên phát một khoảng cách nào đó, tiếp tục quá trình tăng trưởng tại vị trí mới và cuối cùng gây tử vong. Tế bào ung thư có thể di căn theo các đường sau: - Theo đường bạch huyết - Theo đường máu - Di căn theo đường kế cận - Dao mổ, dụng cụ phẫu thuật cũng có thể cấy tế bào ung thư ra nơi khác nếu các dụng cụ này mổ trực tiếp vào khối u. Dịch tễ học ung thư 1. Dịch tễ học ung thư trên thế giới Theo báo cáo của WHO, ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên toàn cầu và ước tính khoảng 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018.
Trên toàn cầu cứ khoảng 6 trường hợp tử vong thì 1 trường hợp là tử vong do ung thư [10]. Khoảng 70% trường hợp tử vong do ung thư xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Khoảng một phần ba số ca tử vong do ung thư là từ 5 nguy cơ hàng đầu liên quan đến hành vi lối sống và chế độ dinh dưỡng: chỉ số khối cơ thể cao (thừa cân, béo phì), ăn ít rau và trái cây, thiếu hoạt động thể chất, sử dụng thuốc lá và lạm dụng rượu bia. Ở các nước đang phát triển, hai trong số năm ung thư hàng đầu ở nam giới (gan và dạ dày) và phụ nữ (cổ tử cung và dạ dày) là do nhiễm trùng.
Ung thư dạ dày là loại ung thư phổ biến với số người tử vong là hơn 524.000 người trong năm 2018, tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới, luan an 5 sau ung thư phổi và ung thư gan. Theo số liệu thống kê GLOBOCAN, năm 2018 có gần 750.000 trường hợp mới mắc, trong đó 3/4 các trường hợp là ở châu Á. Trong phân loại ung thư theo giới, tỷ lệ nam giới mắc bệnh ung thư dạ dày gấp đôi so với nữ giới và đồng thời tỷ lệ tử vong của nam giới cũng cao hơn nữ giới (9,5% so với 4,6%). Ung thư đại trực tràng xếp thứ 3 về tỉ lệ mắc (10,2% với 1.518 ca) với tỉ lệ tử vong là 9,2% (880.
Trong đó, châu Á chiếm tỉ lệ cao nhất với 51,8% số ca mắc và 52,4% số ca tử vong [11]. Dịch tễ học ung thư tại Việt Nam Theo Cơ quan nghiên cứu Quốc tế về ung thư (IARC), tại Việt Nam, số người mới được chẩn đoán ung thư năm 2012 là 125.000 người và số người chết vì ung thư là 94. Nguy cơ mắc ung thư trước 75 tuổi là 14,5%. Trong đó, các loại ung thư phổ biến nhất với nam giới là ung thư phổi, dạ dày, ung thư gan và ung thư trực tràng; ở nữ giới là ung thư vú, trực tràng, phổi và cổ tử cung.
Theo GLOBOCAN 2018, tỉ lệ mới mắc với tất cả các ung thư ở Việt Nam năm 2018 là 154,4/100. So với các nước xung quanh như Thái Lan, Trung Quốc, Singapore, Malaysia., tỉ lệ mắc ung thư ở Việt Nam thấp hơn, song tỉ lệ này cũng tăng dần hàng năm. Xu hướng mắc của một số loại ung thư, ung thư gan chiếm tỉ lệ cao nhất (15,4%), tiếp sau đó là ung thư phổi (14,4%) và ung thư dạ dày (10,6%). Trong đó, ung thư dạ dày xếp hàng thứ 4 trong 10 bệnh ung thư phổ biến nhất với tỷ lệ mắc là 13,9/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 10,9/100.
Năm 2018, Việt Nam có hơn 7000 người tử vong ở nam và gần 3700 người tử vong ở nữ do ung thư dạ dày, tỷ lệ tử vong ở nam giới chỉ đứng sau ung thư gan và ung thư phổi. Tỉ lệ ung thư đại trực tràng xếp thứ 5 về tỉ lệ mắc (8,9% với 14.333 ca) chỉ sau ung thư gan, phổi, luan an 6 dạ dày và ung thư vú. Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng và tỉ lệ mắc bệnh của nam giới cao hơn nữ giới [11]. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư 1.
Định nghĩa về tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng, theo định nghĩa của WHO, là sự thiếu hụt, thừa hoặc mất cân bằng trong cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng so với nhu cầu của cơ thể tại các tế bào nhằm đảm bảo sự phát triển, duy trì hoạt động các chức năng chuyên biệt của chúng.
Suy dinh dưỡng bao gồm cả hai tình trạng: một là sự thiếu hụt về dinh dưỡng bao gồm thiếu hụt về cân nặng, chiều cao và cả các vitamin và khoáng chất, hai là những trường hợp thừa dinh dưỡng như thừa cân béo phì và những bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng [12]. Các công cụ và phương pháp đánh giá TTDD cho người bệnh ung thư 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng các chỉ tiêu nhân trắc học Chỉ số khối cơ thể (BMI – Body Mass Index): Cách tính: Cân nặng (kg) BMI = ------------------- luan an 7 Chiều cao (m)2 Hiện nay, Tổ chức y tế thế giới khuyên dùng BMI để đánh giá, phân loại TTDD. BMI theo phân loại WHO 2006 khuyến nghị cho người trưởng thành như sau [13]: < 18,5 : nhẹ cân 18,5 – 24,9 : bình thường 25,0 – 29,9 : thừa cân 30 : béo phì Để đánh giá tình trạng gầy hay thiếu năng lượng trường diễn (Chronic Energy Deficiency – CED), dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI như sau: CED độ 1: 17 – 18,49 (gầy nhẹ).
Ưu điểm của phương pháp đánh giá BMI là dễ đo lường, nhanh chóng và tiện lợi. Đây là công cụ được sử dụng phổ biến nhất để xác định tương quan nguy cơ của các vấn đề sức khoẻ với cân nặng. BMI được phát triển bởi Adolphe Quetelet từ thế kỷ 19, dựa trên dữ liệu và báo cáo từ nhiều quốc gia, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng BMI là một đại diện tốt cho các vấn đề liên quan đến mỡ và thừa cân. Do đó, BMI là một chỉ số được dùng để ước đoán lượng mỡ của cơ thể.
BMI thường được sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở người lớn [13]. luan an 8 Tuy nhiên, BMI chỉ phụ thuộc vào cân nặng, chiều cao và không xem xét được các mức độ khác nhau dựa trên tuổi tác, mức độ hoạt động thể lực và giới tính. Do đó, kết quả thiếu chính xác vì tiêu chuẩn lấy từ người bình thường giống nhau ở mọi lứa tuổi, sắc tộc, quốc gia. Những bệnh lý gây mất nước hay phù làm biến đổi cân nặng gây sai số trong quá trình đánh giá.
Đồng thời, những tác động lâu dài mới ảnh hưởng BMI [14]. Do đó, nếu chỉ dựa vào BMI để đánh giá TTDD người bệnh ung thư là chưa đầy đủ. Đo chu vi vòng cánh tay (MUAC- Mid-Upper Arm Circumference, tính bằng cm): Chu vi vòng cánh tay là một phép đo đơn giản đã được sử dụng trong nhiều năm để đánh giá dinh dưỡng, là một chỉ số phản ánh về dự trữ protein và năng lượng của từng cá thể. Các nghiên cứu khác nhau đã sử dụng MUAC như một thông số dinh dưỡng ở các nhóm dân cư khác nhau (như người già, người bệnh nội trú, trẻ sơ sinh, trẻ em trước tuổi đến trường, trẻ em đi học, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú).
Chu vi vòng cánh tay là kĩ thuật đo này rất hữu ích khi theo dõi khối lượng mỡ cơ thể bị mất hay tăng. Tuy nhiên cần đánh giá thận trọng những chỉ số nhân trắc này trên người bệnh ung thư vì các giới hạn của nó được xây dựng dựa trên đại diện những người khỏe mạnh, có thể không phù hợp với quần thể người bệnh ung thư. Đo bề dày lớp mỡ dưới da Đo độ dày lớp mỡ dưới da rất hữu ích trong việc đánh giá và theo dõi tình trạng dinh dưỡng ở những người bệnh không thể cân. Tuy nhiên, kỹ thuật có nhiều sai số, giữa các lần đo cũng như giữa các điều tra viên.
Sai số phát luan an 9 sinh trong việc xác định vị trí chính xác để đo lường; cách thức lấy da; cách đặt thước trên nếp gấp; độ nén của nếp gấp và thời gian đọc chính xác. Khắc phục sai số bằng cách lấy giá trị trung bình của ba lần đọc và đo ở tay bên trái. Cũng như các kỹ thuật đo khác, sự hiện diện của phù ở vị trí đo có thể là một yếu tố gây nhiễu.