Nguyễn thị thanh hiền phân tích thực trạng dự phòng và xử trí biến cố giảm bạch cầu trung tính do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện phụ sản trung ương

Nghiên cứu thực trạng dự phòng và xử trí giảm bạch cầu trung tính do hóa trị liệu ung thư tại BV Phụ sản TW. Phân tích chi tiết, kiến nghị cải thiện.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

104
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN VỀ BIẾN CỐ GIẢM BẠCH CẦU TRUNG TÍNH (BCTT) DO HÓA TRỊ LIỆU TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ

2.1. Định nghĩa, phân loại mức độ

2.2. Đặc điểm dịch tễ học

2.3. Yếu tố nguy cơ

2.4. Tổng quan về dự phòng và xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư

2.4.1. Tổng quan về dự phòng sốt giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư

2.4.2. Tổng quan về xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư

2.5. Các nghiên cứu liên quan tình hình sử dụng thuốc trong dự phòng và xử trí biến cố giảm BCTT trên bệnh nhân ung thư

2.6. Tổng quan về biến cố giảm BCTT trên bệnh nhân ung thư phụ khoa

2.7. Tổng quan về ung thư phụ khoa

2.8. Nguy cơ giảm BCTT của phác đồ hóa trị sử dụng cho bệnh nhân ung thư phụ khoa

2.9. Các nghiên cứu liên quan đến sử dụng thuốc trong dự phòng và xử trí biến cố giảm BCTT trên bệnh nhân ung thư phụ khoa

2.10. Một vài nét về Bệnh viện Phụ sản Trung ương

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2.2. Phương pháp lấy mẫu

3.2.3. Quy trình nghiên cứu

3.2.4. Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu

3.2.5. Các quy ước trong nghiên cứu

3.2.6. Xử lý số liệu

3.2.7. Đạo đức nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng dự phòng biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

4.1.1. Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm về nguy cơ sốt giảm BCTT của bệnh nhân

4.1.3. Đặc điểm về nhu cầu sử dụng G-CSF dự phòng biến cố giảm BCTT trên mỗi chu kỳ hóa trị liệu

4.1.4. Thực trạng dự phòng biến cố giảm BCTT bằng thuốc kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF)

4.2. Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

4.2.1. Đặc điểm biến cố giảm BCTT trong mẫu nghiên cứu

4.2.2. Đặc điểm chung về xử trí biến cố giảm BCTT

4.2.3. Đặc điểm xử trí giảm BCTT không kèm sốt bằng G-CSF

4.2.4. Đặc điểm xử trí giảm BCTT kèm sốt

4.3. Hạn chế của nghiên cứu

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giảm Bạch Cầu Trung Tính do Hóa Trị 55

Theo thống kê của tổ chức ung thư toàn cầu năm 2022, ung thư là một vấn đề xã hội, sức khỏe cộng đồng và kinh tế lớn trong thế kỷ 21. Tại Việt Nam, năm 2022 có 180.480 ca mắc ung thư mới và 120.184 ca tử vong. Trong điều trị ung thư, hóa trị liệu vẫn đóng vai trò nền tảng, tuy nhiên, phương pháp này gây ra nhiều biến cố bất lợi. Giảm bạch cầu trung tính (BCTT) là một ADE thường gặp, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, giảm liều hoặc trì hoãn điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy cơ tử vong và chi phí điều trị. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong trong bệnh viện liên quan đến biến cố giảm BCTT dao động từ 2,6% đến 7,0% đối với người lớn có khối u rắn, với chi phí trung bình cho mỗi lần nhập viện ước tính là $40.000. Để quản lý biến cố giảm BCTT này, bệnh nhân thường được dự phòng bằng G-CSF và cân nhắc sử dụng G-CSF và kháng sinh khi biến cố xảy ra.

1.1. Định Nghĩa và Phân Loại Mức Độ Giảm BCTT 50

Điều trị hóa chất làm giảm sản xuất bạch cầu trung tính (BCTT), làm bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng. Giảm BCTT là biến cố thường gặp trên bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân bị sốt và giảm BCTT cần điều trị tích cực vì nguy cơ tử vong do nhiễm trùng. Giảm BCTT được xếp vào nhóm biến cố huyết học theo CTCAE. Bệnh nhân được coi là giảm bạch cầu khi số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (ANC) dưới 2 G/L và được phân thành 4 phân độ. Độ 1: ANC: 1,5 – 2 G/L, độ 2: ANC: 1 – 1,5 G/L, độ 3: ANC: 0,5 – 1 G/L, độ 4: ANC < 0,5 G/L.

1.2. Dịch Tễ Học và Hậu Quả của Giảm Bạch Cầu Trung Tính 60

Giảm BCTT là tác dụng phụ phổ biến của hóa trị liệu, thường phải nhập viện. Trong nghiên cứu xác định dữ liệu xuất viện năm 1999 từ 7 tiểu bang, tỷ lệ nhập viện do giảm BCTT ảnh hưởng đến nhiều hơn 60.000 bệnh nhân ung thư mỗi năm ở Hoa Kỳ với tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nội trú là 6,8%. Hậu quả là giảm phản ứng viêm, nguy cơ nhiễm trùng đe dọa tính mạng, phải thay đổi kế hoạch điều trị. Các cuộc khảo sát chỉ ra rằng giảm BCTT vẫn là vấn đề phổ biến liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và gia tăng chi phí.

1.3. Yếu Tố Nguy Cơ Gây Ra Giảm Bạch Cầu Trung Tính 52

Yếu tố nguy cơ giảm BCTT chia thành 2 nhóm: yếu tố liên quan đến bệnh nhân (tuổi, bệnh lý mắc kèm, giai đoạn bệnh,…) và yếu tố liên quan đến phác đồ hóa trị (loại phác đồ, liều lượng, thời gian sử dụng,…). Tuổi ≥ 65, thể trạng kém (ECOG ≥ 2), tình trạng dinh dưỡng kém, bệnh lý đi kèm (COPD, tiểu đường), ung thư tiến triển, sốt giảm BCTT có từ trước, phác đồ hóa chất hoặc mức độ liều > 80%, kết hợp xạ trị, điều trị trước đó bao gồm xạ trị diện rộng là các yếu tố làm gia tăng nguy cơ giảm bạch cầu trung tính.

II. Đánh Giá Nguy Cơ và Dự Phòng Giảm Bạch Cầu Bằng G CSF 60

Các hướng dẫn khuyến cáo về việc dự phòng sốt giảm BCTT bằng thuốc kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF) đều đồng thuận cần đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT tổng thể của bệnh nhân trước mỗi chu kỳ hóa trị để cân nhắc sử dụng dự phòng G-CSF. Nguy cơ được đánh giá dựa trên 2 nhóm yếu tố nguy cơ: những yếu tố liên quan đến phác đồ hóa trị và yếu tố liên quan đến người bệnh. Trong đó, phác đồ hóa trị liệu bệnh nhân sử dụng là yếu tố quan trọng nhất. Các hướng dẫn trước đây khuyến nghị mức nguy cơ có chỉ định dự phòng là 40%.

2.1. Phân Loại Nguy Cơ Sốt Giảm BCTT Theo Phác Đồ Hóa Trị 58

Các hướng dẫn chia phác đồ thành 3 loại: phác đồ có nguy cơ cao (>20%), nguy cơ trung bình (10% - 20%) và phác đồ hóa trị có nguy cơ thấp tương ứng <10%. Đối với các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân, các hướng dẫn khác nhau có đề cập đến các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, các hướng dẫn đều quan tâm đến các khía cạnh về tuổi, bệnh lý mắc kèm, tiền sử sốt giảm BCTT trên bệnh nhân.

2.2. Quyết Định Dự Phòng G CSF Theo Chu Kỳ Hóa Trị Liệu 60

Việc đánh giá và ra quyết định dự phòng bằng G-CSF khác nhau phụ thuộc vào vị trí chu kỳ hóa trị liệu trên bệnh nhân: chu kỳ đầu tiên hay các chu kỳ sau đó. Với chu kỳ đầu tiên, ở những bệnh nhân ung thư sử dụng phác đồ hóa trị có nguy cơ cao (>20%), các khuyến cáo đều đồng thuận chỉ định dự phòng nguyên phát ngay tại chu kỳ đầu tiên. Đối với phác đồ hóa trị nguy cơ trung bình (10 – 20%), quyết định dự phòng G-CSF phụ thuộc yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân.

2.3. Các Yếu Tố Nguy Cơ Liên Quan Đến Bệnh Nhân Cần Xem Xét 59

Các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân bao gồm: Tuổi > 65 và nhận đủ cường độ liều hóa trị. Xạ trị làm giảm dự trữ tủy xương. Bệnh tiến triển, tiền sử sốt giảm BCTT, giảm BCTT kéo dài. Các khối u đặc di căn liên quan đến xương. Vết thương hở hoặc phẫu thuật gần đây. Tình trạng hoạt động kém, giới nữ, tình trạng dinh dưỡng kém hoặc dinh dưỡng kém. Hemoglobin<12g/dL, bệnh lý gan/thận/tim Rối loạn chức năng thận (độ thanh thải creatinin <50 mg/dL). Bệnh tim mạch. Nhiều bệnh mắc kèm.

III. Thực Trạng Quản Lý Giảm Bạch Cầu tại BV Phụ Sản TW 58

Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện tuyến Trung ương có chức năng khám bệnh, cấp cứu, chữa bệnh chuyên ngành sản phụ khoa và sơ sinh tại Việt Nam. Khoa Phụ ung thư của bệnh viện có vai trò quan trọng trong khám, chẩn đoán, sàng lọc và điều trị các bệnh ung thư phụ khoa như ung thư vú, ung thư buồng trứng và u nguyên bào nuôi. Với mong muốn cung cấp thực trạng quản lý biến cố giảm BCTT do hóa trị ở những bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện để có căn cứ xây dựng các can thiệp dược lâm sàng phù hợp.

3.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu về Dự Phòng Giảm Bạch Cầu 55

Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng dự phòng biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Nghiên cứu này sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng về việc sử dụng G-CSF trong dự phòng giảm bạch cầu, giúp các bác sĩ và dược sĩ lâm sàng đưa ra các quyết định điều trị tốt hơn cho bệnh nhân ung thư phụ khoa.

3.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu về Xử Trí Giảm Bạch Cầu 53

Nghiên cứu cũng phân tích thực trạng xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Qua đó, các biện pháp điều trị như sử dụng kháng sinh và G-CSF trong xử trí giảm BCTT sẽ được đánh giá, từ đó đưa ra các khuyến nghị để cải thiện quy trình xử trí.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu và Đối Tượng Tham Gia 50

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi cứu, thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Đối tượng nghiên cứu bao gồm bệnh nhân ung thư phụ khoa đang điều trị bằng hóa trị liệu. Các dữ liệu thu thập được bao gồm thông tin về phác đồ hóa trị, các yếu tố nguy cơ, việc sử dụng G-CSF dự phòng và xử trí, các biến cố giảm BCTT và cách xử trí.

4.1. Thiết Kế Nghiên Cứu và Phương Pháp Lấy Mẫu Phù Hợp 56

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, sử dụng dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Phương pháp lấy mẫu được thực hiện theo tiêu chí lựa chọn bệnh nhân phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Quy trình nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu, xử lý số liệu và phân tích thống kê để đưa ra kết luận về thực trạng dự phòng và xử trí giảm BCTT.

4.2. Quy Trình Nghiên Cứu và Xử Lý Số Liệu Thống Kê 58

Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước: xác định đối tượng nghiên cứu, thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án, nhập liệu và làm sạch dữ liệu, phân tích thống kê mô tả và phân tích các yếu tố liên quan đến dự phòng và xử trí giảm BCTT. Các quy ước trong nghiên cứu được xác định rõ ràng để đảm bảo tính nhất quán và chính xác của kết quả.

V. Kết Quả Phân Tích Thực Trạng Dự Phòng Giảm BCTT 59

Nghiên cứu đã phân tích thực trạng dự phòng biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Kết quả cho thấy nhiều bệnh nhân có nguy cơ cao không được dự phòng đầy đủ bằng G-CSF. Các yếu tố liên quan đến việc dự phòng không phù hợp bao gồm loại ung thư, phác đồ hóa trị và các bệnh lý đi kèm.

5.1. Đặc Điểm Mẫu Nghiên Cứu và Nguy Cơ Sốt Giảm BCTT 58

Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu bao gồm tuổi, loại ung thư, giai đoạn bệnh, phác đồ hóa trị và các bệnh lý đi kèm. Đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT cho thấy nhiều bệnh nhân có nguy cơ trung bình và cao, nhưng không được dự phòng đầy đủ.

5.2. Thực Trạng Sử Dụng G CSF Trong Dự Phòng Giảm BCTT 60

Phân tích thực trạng sử dụng G-CSF trong dự phòng giảm BCTT cho thấy tỷ lệ sử dụng G-CSF chưa phù hợp với nguy cơ của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân có nguy cơ cao không được sử dụng G-CSF, trong khi một số bệnh nhân có nguy cơ thấp lại được sử dụng không cần thiết.

VI. Kết Quả Phân Tích Thực Trạng Xử Trí Giảm BCTT 58

Nghiên cứu cũng phân tích thực trạng xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Kết quả cho thấy nhiều bệnh nhân bị giảm BCTT không được xử trí kịp thời và hiệu quả. Các yếu tố liên quan đến việc xử trí không phù hợp bao gồm thời gian phát hiện giảm BCTT, sự sẵn có của G-CSF và kháng sinh.

6.1. Đặc Điểm Biến Cố Giảm BCTT Trong Mẫu Nghiên Cứu 55

Đặc điểm của biến cố giảm BCTT trong mẫu nghiên cứu bao gồm mức độ giảm BCTT, thời gian kéo dài của giảm BCTT và các biến chứng liên quan như nhiễm trùng và sốt. Phân tích các yếu tố liên quan đến biến cố giảm BCTT giúp xác định các yếu tố nguy cơ cần được quan tâm đặc biệt.

6.2. Đặc Điểm Các Biện Pháp Xử Trí Giảm Bạch Cầu Trung Tính 59

Phân tích đặc điểm các biện pháp xử trí giảm BCTT bao gồm sử dụng G-CSF, kháng sinh và các biện pháp hỗ trợ khác. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử trí và xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị giúp cải thiện quy trình xử trí.

15/05/2025
Nguyễn thị thanh hiền phân tích thực trạng dự phòng và xử trí biến cố giảm bạch cầu trung tính do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện phụ sản trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của tổ chức ung thư toàn cầu năm 2022, ung thư là một vấn đề xã hội, sức khỏe cộng đồng và kinh tế lớn trong thế kỷ 21, đồng thời là nguyên nhân gây ra gần một phần sáu số ca tử vong (16,8%) và một phần tư số ca tử vong (22,8%) do các bệnh không lây nhiễm trên toàn thế giới [13]. Theo thống kê này, tại Việt Nam năm 2022 có 180 480 ca mắc ung thư mới và 120 184 ca tử vong [13]. Trong điều trị ung thư, mặc dù nhiều liệu pháp mới ra đời, nhưng hoá trị liệu vẫn có vai trò nền tảng, đóng góp quan trọng trong cải thiện tiên lượng bệnh [2]. Tuy nhiên, phương pháp này gây ra nhiều biến cố bất lợi (ADE) nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Trong đó, giảm bạch cầu trung tính (BCTT) là ADE liên quan đến huyết học thường gặp, và có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như tăng nguy cơ biến chứng sốt giảm BCTT/nhiễm khuẩn, giảm liều hoặc trì hoãn điều trị gây ảnh hưởng tới hiệu quả, kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy cơ tử vong và chi phí điều trị [18]. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong trong bệnh viện liên quan đến biến cố giảm BCTT dao động từ 2,6% đến 7,0% đối với người lớn có khối u rắn, với chi phí trung bình cho mỗi lần nhập viện ước tính là $40 000 [11]. Để quản lý biến cố giảm BCTT này, bệnh nhân thường được dự phòng sốt giảm BCTT bằng thuốc kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF); đồng thời cân nhắc xử trí bằng G-CSF và kháng sinh khi biến cố giảm BCTT xảy ra. Các khuyến cáo đều đồng thuận cần đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT tổng thể của bệnh nhân trước mỗi chu kỳ hóa trị.

Nguy cơ sốt giảm BCTT được đánh giá dựa trên nguy cơ của phác đồ hóa trị liệu, nguy cơ liên quan đến từng bệnh nhân, tiền sử sốt giảm BCTT và tiền sử dự phòng G-CSF chu kỳ trước đó [1], [5], [17], [45], [56]. Tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT giữa các khuyến cáo vẫn còn những điểm không tương đồng và chưa được chuẩn hóa, gây khó khăn trong thực hành lâm sàng. Bên cạnh đó, khi bệnh nhân xuất hiện sốt giảm BCTT/nhiễm khuẩn, việc cân nhắc sử dụng G-CSF và kháng sinh cũng là một thách thức do tình trạng bệnh nhân thường nặng, đáp ứng kém và có nguy cơ mắc các chủng đa kháng. Bệnh viện Phụ sản Trung Ương là bệnh viện tuyến Trung ương có chức năng khám bệnh, cấp cứu, chữa bệnh chuyên ngành sản phụ khoa và sơ sinh tại Việt Nam.

Khoa Phụ ung thư của bệnh viện có vai trò quan trọng trong khám, chẩn đoán, sàng lọc và điều trị các bệnh ung thư phụ khoa như ung thư vú, ung thư buồng trứng và u nguyên bào nuôi,. Trong những năm gần đây, hoạt động dược lâm sàng đã bắt đầu được triển khai tại khoa với các hoạt động như: kiểm soát liều của hóa chất, giám sát hoạt động thực hiện thuốc của điều dưỡng,. Với mong muốn cung cấp thực trạng quản lý biến cố giảm BCTT do hóa trị ở những bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện để có căn cứ xây dựng các can thiệp dược lâm sàng phù hợp, giúp tối ưu hiệu quả điều trị và nâng 1 cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, nghiên cứu “Phân tích thực trạng dự phòng và xử trí biến cố giảm bạch cầu trung tính do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương” được thực hiện với hai mục tiêu: Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng dự phòng biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.

Tổng quan về biến cố giảm bạch cầu trung tính (BCTT) do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư 1. Định nghĩa, phân loại mức độ Điều trị hoá chất làm giảm sản xuất bạch cầu trung tính (BCTT), vì vậy, bệnh nhân ung thư sau hoá trị dễ bị nhiễm trùng. Giảm BCTT là biến cố thường gặp trên bệnh nhân ung thư [14]. Giảm BCTT làm giảm phản ứng viêm đối với các bệnh nhiễm trùng mới phát sinh, làm giảm các triệu chứng của nhiễm trùng.

Trong trường hợp này, sốt là dấu hiệu và triệu chứng duy nhất của nhiễm trùng. Do đó, bệnh nhân bị sốt và giảm BCTT hoặc giảm BCTT do sốt cần điều trị tích cực vì nguy cơ tử vong do nhiễm trùng xảy ra rất nhanh [18]. Giảm BCTT được xếp vào nhóm biến cố huyết học trong bảng phân loại mức độ nặng của biến cố bất lợi theo Thang tiêu chuẩn thông dụng để đánh giá các biến cố bất lợi của Viện Ung thư Quốc gia thuộc Viện Sức khoẻ Quốc gia Hoa Kỳ (Common Terminology Criteria for Adverse Events – CTCAE) [27]. Bệnh nhân được coi là giảm bạch cầu khi số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (ANC) dưới 2 G/L và được phân thành 4 phân độ: Độ 1: ANC: 1,5 – 2 G/L, độ 2: ANC: 1 – 1,5 G/L, độ 3: ANC: 0,5 – 1 G/L, độ 4: ANC < 0,5 G/L [2], [27].

Đặc điểm dịch tễ học Giảm BCTT là tác dụng phụ phổ biến của hóa trị liệu, thường phải nhập viện để điều trị các trường hợp nặng. Trong nghiên cứu xác định dữ liệu xuất viện năm 1999 từ 7 tiểu bang, tỷ lệ nhập viện do giảm BCTT ảnh hưởng đến nhiều hơn 60 000 bệnh nhân ung thư mỗi năm ở Hoa Kỳ với tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nội trú là 6,8% [14]. Một nghiên cứu khác thực hiện trên 291 bệnh nhân ung thư phụ khoa tương ứng với 1614 chu kỳ hóa trị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân gặp giảm BCTT độ 4 và tỷ lệ sốt giảm BCTT lần lượt là 50,5% và 6,9%. Trong đó, có 2 trường hợp tử vong liên quan đến giảm BCTT [25].

Nghiên cứu của Julius thực hiện trên bệnh nhân ung thư phụ khoa báo cáo 28,3% bệnh nhân trải qua giảm BCTT nặng, dẫn đến 13,1% bệnh nhân bị trì hoãn điều trị hoặc giảm liều liên quan đến giảm BCTT và 1,4% bệnh nhân nhập viện do sốt giảm BCTT [28]. Hậu quả Giảm BCTT làm giảm phản ứng viêm đối với các bệnh nhiễm trùng mới phát sinh, cho phép vi khuẩn nhân lên và xâm nhập. Do đó, giảm BCTT được coi là độc tính huyết học nghiêm trọng nhất, liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng gây đe dọa tính mạng, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến thay đổi kế hoạch điều trị như: giảm liều hoặc trì hoãn điều trị, gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Các cuộc khảo sát gần đây chỉ ra rằng giảm 3 BCTT vẫn là một vấn đề phổ biến liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và gia tăng chi phí đáng kể trong điều trị [18].

Yếu tố nguy cơ Yếu tố nguy cơ giảm BCTT chia thành 2 nhóm: yếu tố liên quan đến bệnh nhân (tuổi, bệnh lý mắc kèm, giai đoạn bệnh,…) và yếu tố liên quan đến phác đồ hóa trị (loại phác đồ, liều lượng, thời gian sử dụng,…). Các yếu tố nguy cơ liên quan đến gia tăng giảm BCTT được trình bày cụ thể trong bảng 1.1: Yếu tố nguy cơ giảm BCTT Nguy cơ do Liên quan đến gia tăng yếu tố nguy cơ giảm bạch cầu Bệnh nhân Tuổi ≥ 65. Thể trạng kém (ECOG ≥ 2). Tình trạng dinh dưỡng (ví dụ: albumin thấp, hemoglobin thấp < 12g/dL).

Bệnh lý đi Vết thương hở hoặc đang nhiễm trùng. kèm Bệnh lý đi kèm nghiêm trọng (ví dụ: COPD, tiểu đường, bênh lý gan, tim mạch, thận). Loại ung thư Giảm BCTT do khối u gây ảnh hưởng tủy xương. Ung thư tiến triển.

Sốt giảm BCTT có từ trước. Điều trị Chu kỳ trước hoặc tiền sử có sốt giảm BCTT nặng do phác đồ hóa chất tương tự. Loại hóa chất hoặc mức độ liều > 80%. Kết hợp xạ trị.

Điều trị trước đó bao gồm xạ trị diện rộng. Hiện nay, các biện pháp chính trong quản lý biến cố giảm BCTT bao gồm: dự phòng bằng thuốc kích thích tăng sinh bạch cầu hạt (G-CSF); sử dụng kháng sinh, G- CSF điều trị giảm BCTT kèm sốt/không sốt hoặc hiệu chỉnh phác đồ hóa trị liệu (thay đổi phác đồ, liều lượng) khi xảy ra sốt giảm BCTT, biến chứng nhiễm khuẩn. Tổng quan về dự phòng và xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư. Tổng quan về dự phòng sốt giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư 1.

Đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT và quyết định dự phòng thuốc tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF) Các hướng dẫn khuyến cáo về việc dự phòng sốt giảm BCTT bằng thuốc kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF) bao gồm: “Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng 4 cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm” của Bộ Y Tế (2019) [1], “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu” của Bộ Y tế (2020) [2], “Hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ” (ASCO, 2015) [56], “Hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư y tế châu Âu” (ESMO, 2010) [17], “Hướng dẫn của tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu” (EORTC, 2011) [5] và “Hướng dẫn của Mạng lưới Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NCCN, 2024) [45]. Các hướng dẫn đều đồng thuận cần đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT tổng thể của bệnh nhân trước mỗi chu kỳ hóa trị để cân nhắc sử dụng dự phòng G-CSF.  Đánh giá nguy cơ Nguy cơ gây sốt giảm BCTT được đánh giá dựa trên 2 nhóm yếu tố nguy cơ: những yếu tố nguy cơ liên quan đến phác đồ hóa trị và yếu tố liên quan đến người bệnh. Trong đó, phác đồ hoá trị liệu bệnh nhân sử dụng là yếu tố quan trọng nhất [75].

Về phác đồ hóa trị, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu, Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm, NCCN và EORTC dựa trên bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng để chia thành 3 loại: phác đồ có nguy cơ cao (>20%), nguy cơ trung bình (10% - 20%) và phác đồ hóa trị có nguy cơ thấp tương ứng <10% [1], [2], [5], [45]. Đối với các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân, sự khác nhau giữa các hướng dẫn được trình bày trong bảng 1. Nhìn chung, các hướng dẫn khác nhau có đề cập đến các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân cụ thể khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tuyệt vời! Đây là bản tóm tắt tập trung SEO về nghiên cứu "Nghiên cứu Thực Trạng Dự Phòng và Xử Trí Giảm Bạch Cầu Trung Tính do Hóa Trị Liệu Ung Thư tại BV Phụ Sản TW", kèm theo liên kết đến các tài liệu liên quan để độc giả dễ dàng khám phá sâu hơn:

Giảm bạch cầu trung tính là một biến chứng nghiêm trọng thường gặp trong quá trình hóa trị liệu ung thư, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và kết quả điều trị của bệnh nhân. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng dự phòng và xử trí tình trạng này tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về các phác đồ điều trị, các biện pháp can thiệp hiện tại, cũng như những thách thức và cơ hội để cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Từ đó, giúp các bác sĩ và nhân viên y tế có cơ sở khoa học để xây dựng các hướng dẫn điều trị và chăm sóc bệnh nhân cụ thể, hiệu quả hơn, giảm thiểu tác dụng phụ của hóa trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Để hỗ trợ bệnh nhân ung thư toàn diện hơn, bạn có thể tìm hiểu thêm về tầm quan trọng của dinh dưỡng trong quá trình điều trị hóa chất qua luận án tiến sĩ về Luận án tiến sĩ hiệu quả can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư điều trị hoá chất tại bệnh viện đại học y hà nội. Đồng thời, đừng bỏ qua yếu tố tâm lý, một khía cạnh quan trọng không kém, được phân tích sâu sắc trong Luận án tiến sĩ tâm lý học sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động. Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến một loại ung thư cụ thể, luận án Luận án kết quả điều trị ung thư trực tràng thấp trung bình giai đoạn tiến triển tại chỗ bằng xạ trị gia tốc trước phẫu thuật kết hợp với capecitabine có thể cung cấp những thông tin hữu ích.