ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của tổ chức ung thư toàn cầu năm 2022, ung thư là một vấn đề xã hội, sức khỏe cộng đồng và kinh tế lớn trong thế kỷ 21, đồng thời là nguyên nhân gây ra gần một phần sáu số ca tử vong (16,8%) và một phần tư số ca tử vong (22,8%) do các bệnh không lây nhiễm trên toàn thế giới [13]. Theo thống kê này, tại Việt Nam năm 2022 có 180 480 ca mắc ung thư mới và 120 184 ca tử vong [13]. Trong điều trị ung thư, mặc dù nhiều liệu pháp mới ra đời, nhưng hoá trị liệu vẫn có vai trò nền tảng, đóng góp quan trọng trong cải thiện tiên lượng bệnh [2]. Tuy nhiên, phương pháp này gây ra nhiều biến cố bất lợi (ADE) nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Trong đó, giảm bạch cầu trung tính (BCTT) là ADE liên quan đến huyết học thường gặp, và có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như tăng nguy cơ biến chứng sốt giảm BCTT/nhiễm khuẩn, giảm liều hoặc trì hoãn điều trị gây ảnh hưởng tới hiệu quả, kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy cơ tử vong và chi phí điều trị [18]. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong trong bệnh viện liên quan đến biến cố giảm BCTT dao động từ 2,6% đến 7,0% đối với người lớn có khối u rắn, với chi phí trung bình cho mỗi lần nhập viện ước tính là $40 000 [11]. Để quản lý biến cố giảm BCTT này, bệnh nhân thường được dự phòng sốt giảm BCTT bằng thuốc kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF); đồng thời cân nhắc xử trí bằng G-CSF và kháng sinh khi biến cố giảm BCTT xảy ra. Các khuyến cáo đều đồng thuận cần đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT tổng thể của bệnh nhân trước mỗi chu kỳ hóa trị.
Nguy cơ sốt giảm BCTT được đánh giá dựa trên nguy cơ của phác đồ hóa trị liệu, nguy cơ liên quan đến từng bệnh nhân, tiền sử sốt giảm BCTT và tiền sử dự phòng G-CSF chu kỳ trước đó [1], [5], [17], [45], [56]. Tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT giữa các khuyến cáo vẫn còn những điểm không tương đồng và chưa được chuẩn hóa, gây khó khăn trong thực hành lâm sàng. Bên cạnh đó, khi bệnh nhân xuất hiện sốt giảm BCTT/nhiễm khuẩn, việc cân nhắc sử dụng G-CSF và kháng sinh cũng là một thách thức do tình trạng bệnh nhân thường nặng, đáp ứng kém và có nguy cơ mắc các chủng đa kháng. Bệnh viện Phụ sản Trung Ương là bệnh viện tuyến Trung ương có chức năng khám bệnh, cấp cứu, chữa bệnh chuyên ngành sản phụ khoa và sơ sinh tại Việt Nam.
Khoa Phụ ung thư của bệnh viện có vai trò quan trọng trong khám, chẩn đoán, sàng lọc và điều trị các bệnh ung thư phụ khoa như ung thư vú, ung thư buồng trứng và u nguyên bào nuôi,. Trong những năm gần đây, hoạt động dược lâm sàng đã bắt đầu được triển khai tại khoa với các hoạt động như: kiểm soát liều của hóa chất, giám sát hoạt động thực hiện thuốc của điều dưỡng,. Với mong muốn cung cấp thực trạng quản lý biến cố giảm BCTT do hóa trị ở những bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện để có căn cứ xây dựng các can thiệp dược lâm sàng phù hợp, giúp tối ưu hiệu quả điều trị và nâng 1 cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, nghiên cứu “Phân tích thực trạng dự phòng và xử trí biến cố giảm bạch cầu trung tính do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương” được thực hiện với hai mục tiêu: Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng dự phòng biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.
Tổng quan về biến cố giảm bạch cầu trung tính (BCTT) do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư 1. Định nghĩa, phân loại mức độ Điều trị hoá chất làm giảm sản xuất bạch cầu trung tính (BCTT), vì vậy, bệnh nhân ung thư sau hoá trị dễ bị nhiễm trùng. Giảm BCTT là biến cố thường gặp trên bệnh nhân ung thư [14]. Giảm BCTT làm giảm phản ứng viêm đối với các bệnh nhiễm trùng mới phát sinh, làm giảm các triệu chứng của nhiễm trùng.
Trong trường hợp này, sốt là dấu hiệu và triệu chứng duy nhất của nhiễm trùng. Do đó, bệnh nhân bị sốt và giảm BCTT hoặc giảm BCTT do sốt cần điều trị tích cực vì nguy cơ tử vong do nhiễm trùng xảy ra rất nhanh [18]. Giảm BCTT được xếp vào nhóm biến cố huyết học trong bảng phân loại mức độ nặng của biến cố bất lợi theo Thang tiêu chuẩn thông dụng để đánh giá các biến cố bất lợi của Viện Ung thư Quốc gia thuộc Viện Sức khoẻ Quốc gia Hoa Kỳ (Common Terminology Criteria for Adverse Events – CTCAE) [27]. Bệnh nhân được coi là giảm bạch cầu khi số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (ANC) dưới 2 G/L và được phân thành 4 phân độ: Độ 1: ANC: 1,5 – 2 G/L, độ 2: ANC: 1 – 1,5 G/L, độ 3: ANC: 0,5 – 1 G/L, độ 4: ANC < 0,5 G/L [2], [27].
Đặc điểm dịch tễ học Giảm BCTT là tác dụng phụ phổ biến của hóa trị liệu, thường phải nhập viện để điều trị các trường hợp nặng. Trong nghiên cứu xác định dữ liệu xuất viện năm 1999 từ 7 tiểu bang, tỷ lệ nhập viện do giảm BCTT ảnh hưởng đến nhiều hơn 60 000 bệnh nhân ung thư mỗi năm ở Hoa Kỳ với tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nội trú là 6,8% [14]. Một nghiên cứu khác thực hiện trên 291 bệnh nhân ung thư phụ khoa tương ứng với 1614 chu kỳ hóa trị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân gặp giảm BCTT độ 4 và tỷ lệ sốt giảm BCTT lần lượt là 50,5% và 6,9%. Trong đó, có 2 trường hợp tử vong liên quan đến giảm BCTT [25].
Nghiên cứu của Julius thực hiện trên bệnh nhân ung thư phụ khoa báo cáo 28,3% bệnh nhân trải qua giảm BCTT nặng, dẫn đến 13,1% bệnh nhân bị trì hoãn điều trị hoặc giảm liều liên quan đến giảm BCTT và 1,4% bệnh nhân nhập viện do sốt giảm BCTT [28]. Hậu quả Giảm BCTT làm giảm phản ứng viêm đối với các bệnh nhiễm trùng mới phát sinh, cho phép vi khuẩn nhân lên và xâm nhập. Do đó, giảm BCTT được coi là độc tính huyết học nghiêm trọng nhất, liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng gây đe dọa tính mạng, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến thay đổi kế hoạch điều trị như: giảm liều hoặc trì hoãn điều trị, gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Các cuộc khảo sát gần đây chỉ ra rằng giảm 3 BCTT vẫn là một vấn đề phổ biến liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và gia tăng chi phí đáng kể trong điều trị [18].
Yếu tố nguy cơ Yếu tố nguy cơ giảm BCTT chia thành 2 nhóm: yếu tố liên quan đến bệnh nhân (tuổi, bệnh lý mắc kèm, giai đoạn bệnh,…) và yếu tố liên quan đến phác đồ hóa trị (loại phác đồ, liều lượng, thời gian sử dụng,…). Các yếu tố nguy cơ liên quan đến gia tăng giảm BCTT được trình bày cụ thể trong bảng 1.1: Yếu tố nguy cơ giảm BCTT Nguy cơ do Liên quan đến gia tăng yếu tố nguy cơ giảm bạch cầu Bệnh nhân Tuổi ≥ 65. Thể trạng kém (ECOG ≥ 2). Tình trạng dinh dưỡng (ví dụ: albumin thấp, hemoglobin thấp < 12g/dL).
Bệnh lý đi Vết thương hở hoặc đang nhiễm trùng. kèm Bệnh lý đi kèm nghiêm trọng (ví dụ: COPD, tiểu đường, bênh lý gan, tim mạch, thận). Loại ung thư Giảm BCTT do khối u gây ảnh hưởng tủy xương. Ung thư tiến triển.
Sốt giảm BCTT có từ trước. Điều trị Chu kỳ trước hoặc tiền sử có sốt giảm BCTT nặng do phác đồ hóa chất tương tự. Loại hóa chất hoặc mức độ liều > 80%. Kết hợp xạ trị.
Điều trị trước đó bao gồm xạ trị diện rộng. Hiện nay, các biện pháp chính trong quản lý biến cố giảm BCTT bao gồm: dự phòng bằng thuốc kích thích tăng sinh bạch cầu hạt (G-CSF); sử dụng kháng sinh, G- CSF điều trị giảm BCTT kèm sốt/không sốt hoặc hiệu chỉnh phác đồ hóa trị liệu (thay đổi phác đồ, liều lượng) khi xảy ra sốt giảm BCTT, biến chứng nhiễm khuẩn. Tổng quan về dự phòng và xử trí biến cố giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư. Tổng quan về dự phòng sốt giảm BCTT do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư 1.
Đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT và quyết định dự phòng thuốc tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF) Các hướng dẫn khuyến cáo về việc dự phòng sốt giảm BCTT bằng thuốc kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt (G-CSF) bao gồm: “Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng 4 cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm” của Bộ Y Tế (2019) [1], “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu” của Bộ Y tế (2020) [2], “Hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ” (ASCO, 2015) [56], “Hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư y tế châu Âu” (ESMO, 2010) [17], “Hướng dẫn của tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu” (EORTC, 2011) [5] và “Hướng dẫn của Mạng lưới Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NCCN, 2024) [45]. Các hướng dẫn đều đồng thuận cần đánh giá nguy cơ sốt giảm BCTT tổng thể của bệnh nhân trước mỗi chu kỳ hóa trị để cân nhắc sử dụng dự phòng G-CSF. Đánh giá nguy cơ Nguy cơ gây sốt giảm BCTT được đánh giá dựa trên 2 nhóm yếu tố nguy cơ: những yếu tố nguy cơ liên quan đến phác đồ hóa trị và yếu tố liên quan đến người bệnh. Trong đó, phác đồ hoá trị liệu bệnh nhân sử dụng là yếu tố quan trọng nhất [75].
Về phác đồ hóa trị, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu, Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm, NCCN và EORTC dựa trên bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng để chia thành 3 loại: phác đồ có nguy cơ cao (>20%), nguy cơ trung bình (10% - 20%) và phác đồ hóa trị có nguy cơ thấp tương ứng <10% [1], [2], [5], [45]. Đối với các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân, sự khác nhau giữa các hướng dẫn được trình bày trong bảng 1. Nhìn chung, các hướng dẫn khác nhau có đề cập đến các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân cụ thể khác nhau.