ĐẶT VẤN ĐỀ Theo tổ chức y tế thế giới hàng năm có khoảng 11 triệu ngƣời mắc bệnh ung thƣ mới và khoảng 6 triệu ngƣời chết do ung thƣ. Ở các nƣớc phát triển ung thƣ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 2 sau các bệnh tim mạch và các nƣớc đang phát triển thì ung thƣ đứng hàng thứ 3 sau bệnh nhiễm trùng/ký sinh trùng và tim mạch. Tại Việt Nam ƣớc tính hàng năm có khoảng 100.000 trƣờng hợp mới mắc và khoảng 75.000 ngƣời chết vì bệnh này [8]. Đây thực sự là một gánh nặng không chỉ ảnh hƣởng đến sức khỏe bệnh nhân mà còn ảnh hƣởng rất lớn đến gia đình bệnh nhân.
Xử lí đúng cách căn bệnh này để có kết quả tốt về chất lƣợng cuộc sống và khả năng sống thêm là điều hết sức cần thiết và quý báu. Điều trị ung thƣ hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị. Phẫu thuật là phƣơng pháp điều trị tại chỗ. Xạ trị là phƣơng pháp điều trị tại vùng.
Phƣơng pháp điều trị toàn thân bao gồm hóa chất, nội tiết và sinh học. Trong đó, xạ trị chiếm một vai trò quan trọng [9]. Xạ trị ung thƣ xuất hiện sau phẫu trị, nhƣng càng ngày càng chứng tỏ khả năng mạnh mẽ và hữu hiệu. Đối với ung thƣ giai đoạn sớm, bức xạ ion-hóa cho thấy khả năng trị khỏi tƣơng tự nhƣ phẫu thuật.
Tùy theo loại và thời kì phát triển của ung thƣ xạ trị đƣợc dùng để chữa lành, ngăn chặn sự lan rộng, giảm tái phát, tăng thêm thời gian sống và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên đây là phƣơng pháp không đặc hiệu, bên cạnh những lợi ích đó thì nó cũng gây ra không ít tác dụng phụ làm ảnh hƣởng đến kết quả điều trị và chất lƣợng sống của bệnh nhân vì tia xạ tiêu diệt tế bào ung thƣ nhƣng cũng hủy hoại mô lành quanh khu vực điều trị. Điều trị những phần khác nhau trong cơ thể sẽ có các độc tính và phản ứng phụ khác nhau. Đối với hệ tạo huyết sẽ 2 gây: thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu.
Ngoài hệ tạo huyết gây: đỏ hoặc tróc da, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, viêm niêm mạc, rụng tóc [15]…Tùy vào vị trí, giai đoạn ung thƣ, liều xạ trị, mục tiêu và phƣơng pháp điều trị mà độc tính và tác dụng sẽ có biểu hiện ở những mức độ khác nhau. Theo một số nghiên cứu cho thấy dòng bạch cầu bị tổn thƣơng sớm và nặng nề nhất. Khi xạ trị đơn thuần có 11,1% độ 1, 3,2% độ 2. Nhƣng khi phối hợp hóa xạ trị đồng thời thì mức độ tổn thƣơng tăng lên đáng kể với 33,6% độ 1, 27,4% độ 2 và 3,9% độ 3 [6].
Nghiên cứu khác cũng ghi nhận dòng bạch cầu bị tổn thƣơng sớm và nhiều nhất. Có 31,3% bệnh nhân tổn thƣơng ở độ 1, 12,5% độ 2 và 3,1% độ 3. Huyết sắc tố ít ảnh hƣởng hơn so với dòng tế bào bạch cầu, song cũng có 12,5% tổn thƣơng độ 1 và 6,2% độ 2 [19]. Nghiên cứu khác cho thấy tiêu chảy chiếm 16,7% trong đó 15% là độ 1-2, độ 3 1,7% [20].
Tổn thƣơng da chiếm 63,6% trong đó có 41,2% độ 1, 16,5% độ 2, 5.9% độ 3; có 97,7 % viêm niêm mạc miệng trong đó có 65,9% độ 1, 24,7% độ 2 và 7,1% độ 3 [29]. Nôn hoặc buồn nôn 36,7% độ 1, 14,5% độ 2 và 4,4% độ 3; 4,4% rụng tóc độ 1 [34]. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của tia xạ tới các hoạt động chức năng của cơ thể sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về bệnh học, cũng nhƣ hoàn thiện thêm về phƣơng pháp điều trị ung thƣ. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình tác dụng phụ của tia xạ điều trị ung thƣ tại Bệnh viện Ung bƣớu Cần Thơ năm 2014-2015”.
Với các mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ và mức độ tác dụng phụ của xạ trị ngoài trong điều trị ung thƣ tại Bệnh viện Ung bƣớu Cần Thơ năm 2014-2015. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ tác dụng phụ của xạ trị ngoài tại Bệnh viện Ung bƣớu Cần Thơ năm 2014-2015. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về ung thƣ 1.1 Dịch tễ học ung thƣ Theo tổ chức y tế thế giới hàng năm có khoảng 11 triệu ngƣời mắc bệnh ung thƣ mới và khoảng 6 triệu ngƣời chết do ung thƣ.
Ở các nƣớc phát triển ung thƣ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 2 sau các bệnh tim mạch và các nƣớc đang phát triển thì ung thƣ đứng hàng thứ 3 sau bệnh nhiễm trùng/ký sinh trùng và tim mạch [8]. Tình hình bệnh ung thƣ trên thế giới rất khác biệt giữa các nƣớc và các vùng. Nơi có tỷ lệ mới mắc ung thƣ ghi nhận đƣợc cao nhất là vùng Bắc Mỹ và thấp nhất là vùng Bắc Phi. Sự khác biệt của một số loại ung thƣ có thể lên đến hàng trăm lần tùy vào mức độ tiếp xúc với yếu tố nguy cơ và yếu tố di truyền [8].
Tại Việt Nam bệnh ung thƣ đã đƣợc tìm hiểu từ rất lâu đời. Qua các nghiên cứu ngƣời ta thấy rằng trung bình mỗi năm ƣớc tính ở Việt Nam có tối thiểu 78.000 ca ung thƣ mới mắc đƣợc ghi nhận, trong đó nam 41.500 ca và nữ 36.000 ca ung thƣ phổi, 7.000 ca ung thƣ vú, 4.000 ca ung thƣ dạ dày và 2.000 ca ung thƣ gan…[8] 1.2 Điều trị ung thƣ Ung thƣ là căn bệnh có thể chữa khỏi nếu đƣợc phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phƣơng pháp. Tại các nƣớc phát triển, 70% ngƣời bệnh ung thƣ tránh đƣợc tử vong nhờ các tiến bộ y học. Điển hình một số loại nhƣ ung thƣ giáp trạng, vú, cổ tử cung… tỷ lệ chữa khỏi đạt 80% [9].
Tại Việt Nam, theo đánh giá của Cơ quan nghiên cứu ung thƣ quốc tế tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thƣ đạt 40%. Tỷ lệ này chƣa đƣợc nhƣ mong muốn chủ yếu phần lớn là do bệnh nhân đến khám và điều trị ở giai đoạn muộn (trên 80%) [9]. 4 Điều trị ung thƣ hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị tại chỗ là phẫu thuật, tại vùng bằng xạ trị với các phƣơng pháp toàn thân bằng hóa chất, nội tiết và sinh học [9].2 Xạ trị trong ung thƣ: 1.1 Định nghĩa và các phƣơng pháp xạ trị: Định nghĩa Xạ trị là phƣơng pháp dùng các bức xạ ion-hóa vào điều trị các bƣớu ung thƣ. Các bức xạ ion-hóa là những chùm tia mang năng lƣợng rất cao, khi chiếu vào vật chất sẽ bứt rời các hạt điện tử (electron) ra khỏi nguyên tử của vật chất đó, tạo nên những cặp ion.
Tầm hoạt động của xạ trị nhằm kiểm soát ung thƣ tại chỗ, tại vùng [17]. Phƣơng pháp xạ trị 1. Tia xạ ngoài hay tia xạ xa (Teléradiothérapie) nhƣ 60Co, máy gia tốc… nghĩa là bức xạ đi vào cơ thể qua một khoảng không nhất định, nguồn xạ không tiếp xúc trực tiếp với cơ thể bệnh nhân. Phân loại: Dựa theo mức năng lƣợng và bản chất: - Về mức năng lƣợng: + Photon năng lƣợng thấp và trung bình là các Photon từ 35kV tới 250kV.
Ta còn gọi đó là những máy mang tính qui ƣớc. + Photon năng lƣợng cao (Haute Énergie - HE) nhƣ 60Co hoặc rất cao (Trés Haute Énergie - THE) nhƣ một số máy gia tốc, năng lƣợng có thể tới 35MV. + Những chùm điện tử từ 7 đến 32MeV. - Về bản chất: Eléctron, photon, proton và neutron [27].
Các phƣơng pháp xạ trị [17] Loại tia Nguồn phát tia Năng lƣợng Ứng dụng Tia X Bề mặt Máy phát tia X 85-150 KeV Các loại ung thƣ da nông Điều trị tạm bợ các ung Qui ƣớc Máy phát tia X 250-300 KeV thƣ lan rộng, các bƣớu dƣới da và di căn xƣơng. Đôi khi sử dụng điều trị tận gốc ung thƣ da, bổ sung trong ung thƣ vú. Siêu thế Máy gia tốc 4-25 MeV Điều trị tận gốc và tạm thẳng bợ các bƣớu nằm trong sâu. Tia Cobalt 60 1,17-1,33 MeV Điều trị tận gốc đặc biệt Gamma các ung thƣ đầu cổ, ung thƣ vú.
Điều trị tạm bợ cho nhiều vị trí ung thƣ: xƣơng, hạch , bệnh lympho, não và toàn thân. Cesium 137 660 KeV Điều trị bƣớu vùng đầu mặt cổ. 6 Hạt β Strontium 90 2,3 MeV Bƣớu sùi dạng nấm và các sang thƣơng khác ở da. Mọng thịt ở mắt Điều trị tạm bợ di căn xƣơng từ ung thƣ tiền liệt tuyến.
Âm điện tử Máy gia tốc 4-20 MeV Điều trị tận gốc và tạm năng lƣợng thẳng bợ các bƣớu ở da và bƣớu cao ngoài bề mặt. Tia xạ trong (Endoradiothérapie) là đƣa nguồn phóng xạ vào trong môi trƣờng thể dịch của cơ thể bằng đƣờng uống hoặc tiêm. Sau khi tƣơng tác với cơ thể để phát huy hiệu quả, nó sẽ đƣợc đào thải qua đƣờng tự nhiên nhƣ với Iode 131, Vàng 198 và một số đồng vị khác dùng trong chuẩn đoán và điều trị [27].2 Liều bức xạ trong điều trị Độ nhạy cảm của khối u với xạ trị. Căn cứ vào độ nhạy cảm của khối u đối với tia xạ ta có thể phân độ nhạy cảm của khối u làm 4 loại: + Loại rất nhạy cảm: nhƣ u phôi, u lympho + Loại nhạy cảm: nhƣ u Wilms, u tinh + Loại nhạy cảm vừa: nhƣ ung thƣ biểu mô gai, ung thƣ biểu mô tuyến.
7 + Loại ít nhạy cảm: nhƣ ung thƣ xƣơng, ung thƣ hắc tố, một số ung thƣ phần mềm [8]. Độ nhạy cảm của khối u với liều xạ trị triệt để.