MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hóa học các hợp chất thiên nhiên nói chung là các hợp chất có hoạt t nh sinh học nói riêng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đã và đang được nhi u nhà khoa học quan tâm. Từ xa xưa, con người đã khám phá sức mạnh của thiên nhiên và biết sử dụng nhi u loại thực vật nhằm mục đ ch chữa bệnh, đồng thời tránh được một số tác nhân có hại cho sức khỏe con người. Do vậy, việc nghiên cứu các chất mang hoạt t nh sinh học cao có trong các loài cây, cỏ có tác dụng thiết thực trong đời sống hàng ngày là vấn đ quan tâm của toàn xã hội và được đặt lên hàng đ u.
Như ch ng ta đã biết, động – thực vật là nguồn tài nguyên phong ph và là nguồn cung cấp các hợp chất thiên nhiên có hoạt t nh sinh học vô cùng quý giá. Việc khai thác và sử dụng các loài động – thực vật để làm thuốc và hỗ trợ chữa bệnh đã được thực hiện từ lâu. Hiện nay, xu hướng nghiên cứu tìm kiếm các hợp chất thiên nhiên có hoạt t nh sinh học cao từ các loài động – thực vật làm dược phẩm chữa bệnh ngày càng thu h t được sự quan tâm của các nhà khoa học. Từ thực tế nhận thấy, các hợp chất thiên nhiên thường có hoạt t nh mạnh, độ ổn định cao và có độc t nh thấp hơn so với các hợp chất nguồn gốc tổng hợp.
Loài Trọng nâu (Paris polyphylla) là loài thực vật có giá trị làm thuốc và chữa nhi u bệnh như viêm gan, viêm dạ dày và đại tràng. Các nghiên cứu g n đây cũng ch ra rằng, cao chiết và các hợp chất tách ra được từ loài thực vật này có khả năng ức chế mạnh nhi u dòng tế bào ung thư. Ở Việt Nam, loài thực vật này hiện nay rất được quan tâm nhân giống để trồng trong các vườn dược liệu nhằm phục vụ cho nhu c u chữa bệnh bằng các bài thuốc cổ truy n có chứa thành ph n là cây Trọng nâu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách hệ thống v thành ph n hóa học và hoạt t nh sinh học của loài thực vật này mọc hoang trong tự nhiên hiện chưa được quan tâm đ ng mức.
Do đó, ch ng tôi đ xuất đ tài: Ph n ập, c đ nh cấu tr c và đ nh gi hoạt t nh ức chế tế ào ung thƣ của h p chất trong củ oài Trọng n u (Paris polyphylla tại Vi t Nam. Đ tài này khi hoàn thành sẽ cung cấp các thông tin khoa học giá trị làm cơ sở khoa học quan trọng để sử dụng loài thực vật này làm thuốc chữa bệnh và sàng lọc các hợp chất có hoạt t nh tốt để tiến hành nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời góp ph n vào đào tạo nguồn nhân lực cho vùng n i ph a Bắc và cả nước. Mục tiêu của đề tài 1- Phân lập được 2 hợp chất từ củ loài Trọng nâu (Paris polyphylla).
2- Xác định cấu tr c của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ hiện đại (NMR và MS). 3- Tiến hành thử hoạt t nh ức chế tế bào ung thư của các hợp chất phân lập được. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về loài Trọng nâu 1.
Tên khoa học - Tên khoa học: Paris polyphylla Sm. - Tên Việt Nam: Cây Trọng nâu, Thất diệp nhất chi hoa, Cây bảy lá một hoa, Tảo hưu, Độc cước liên, Thiết đăng đài, Chi hoa đ u, Thảo hà xa, Hữu t c nhi u lá… 1. Phân loại và đặc điểm thực vật chi Paris 1. Phân loại thực vật Hiện nay, hệ thống phân loại thực vật chi Paris chưa có sự thống nhất.
Theo hệ thống phân loại của Takhtajan (1987), vị tr phân loại của chi Paris thuộc phân giới thực vật bậc cao; ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); phân lớp Hành (Liliopsida); phân lớp Loa kèn (Liliidae); bộ Củ nâu (Dioscoreales); họ Bảy lá một hoa (Trọng lâu) (Trilliaceae) [2]. Theo hệ thống phân loại mới nhất APG III dựa trên những d n liệu v sinh học phân tử, chi Paris được xếp vào họ Hắc dược hoa (Melanthiaceae) [73] với tổng số 26 loài và 13 thứ. là một chi nhỏ, phân bố ở vùng cận nhiệt đới hoặc ôn đới ẩm Bắc bán c u, trong đó Trung Quốc được coi là trung tâm đa dạng của các loài thuộc chi Paris. Thực vật ch Trung Quốc đã mô tả hình thái và xếp chi Paris vào họ Loa kèn (Liliaceae) với 22 loài và 17 thứ (var.) trong đó có 12 loài đặc hữu.
Đồng thời các nhà thực vật Trung Quốc cũng phân loại loài Paris polyphylla (P. polyphylla) thành 10 thứ, bao gồm: P. pseudo thibetica và P. Ở Việt Nam, nhi u loài thuộc chi Paris là những cây thuốc quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Nạn phá rừng làm thu hẹp môi trường sống và tình trạng thu gom bán qua biên giới trong thời gian dài là nguyên nhân gây suy giảm mạnh nguồn cung cấp loài dược liệu này. Hiện nay, loài P. yunnanensis Smith đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh mục cây thuốc Việt Nam (2006). Đặc điểm thực vật của chi Paris L.
Bảy lá một hoa là cây thân thảo, sống nhi u năm, cao 40 – 100 cm; thân rễ g n hình trụ ngắn, nằm ngang, đường k nh khoảng 2 cm; thân rễ trên mặt đất thẳng đứng, đơn độc không phân nhánh, nảy m m vào mùa xuân và tàn lụi vào mùa đông. Ra hoa vào tháng 3 – 7, có quả vào tháng 8 – 12. Lá 5 – 7, xếp thành một vòng trên thân; phiến lá mỏng, màu lục, hình trứng ngược, hình thuôn, k ch thước 5 – 7 cm, 5 – 7 gân ch nh, xuất phát từ gốc, chóp nhọn, gốc tròn hoặc hình nêm, cuống dài 2,5 – 6 cm. Hoa mọc đơn độc ở đ nh, thân, to, đ u, lư ng t nh; cuống dài 15 – 40 cm, thẳng đứng.
Đài 5 – 6, dạng lá, rời nhau, hình mũi giáo, k ch thước 5 – 8 x 1,5 – 2,5 cm, màu lục. Cánh hoa 5 – 6, màu vàng, dạng dài, k ch thước 4,5 – 6 x 0,1 cm, bằng nhau. Nhị 10 – 12, dài 1,5 – 3 cm; ch nhị dẹp, dài 0,5 – 1,2 cm, d nh ở gốc mảnh bao hoa; phấn hình thuôn, đ nh gốc, 2 ô, mở bằng khe dọc, đ nh trung đới kéo dài thành hình kim, dài 1 – 2,5 mm. B u trên, hình trứng, noãn nhi n, đ nh bên; vòi nhụy 5 – 6, dính nhau ph n gốc; đ u nhụy 5 – 6.
Quả nang, mở ở lưng. Hạt màu nâu tối, hình c u hoặc hình b u dục, nhẵn, vỏ hạt mọng nước hoặc không, có nội nhũ rắn chắc hoặc nạc, hình cấu hoặc hình trứng [6, 11, 12]. Hình ảnh oài P. Hình vẽ mô tả oài P.
polyphylla Năm 2015, Nguyễn Quỳnh Nga và cộng sự đã nghiên cứu v đặc điểm thực vật một số loài thuộc chi Paris ở Việt Nam và đã khẳng định các loài thuộc chi Paris đã ghi nhận ở Việt Nam đ u thuộc nhóm b u 1 ô, noãn đ nh bên thuộc chi Daiswa theo quan điểm của Li Heng [3, 4, 58, 59]. polyphylla phát triển mạnh trên bụi rậm, cỏ hoặc dốc đá ẩm ướt, mùn, giàu nitrogen và phosphorus dưới tán rừng [14, 32, 46]. Nó phát triển ở những khu vực không bị xáo trộn với độ tán che hơn 80% [14]. polyphylla mọc hoang dã đang suy giảm do bị tàn phá môi trường sống, nạn phá rừng, khai thác quá mức và thu hái trái phép, đã được liệt kê trong Sách đỏ của IUCN v Các loài bị đe dọa [6].
Thu hoạch quá mức cho phép trong mùa vụ sớm hơn sự trưởng thành của hạt có thể d n 5 đến sự hình thành và nảy m m của hạt không thường xuyên, đây là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với thực vật tái sinh [43]. Phân bố Trên thế giới, loài này xuất hiện ở các nước châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Thái Lan… [23] Tại Việt Nam, loài Trọng nâu mọc hoang tại h u hết những vùng rừng n i, nhi u nhất tại các t nh Lào Cai, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Tây, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An… Ngoài ra còn được khai thác ở Lào [30]. Một số công dụng của loài P. polyphylla Bộ phận sử dụng: Thân rễ, thu hái quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa thu và mùa đông, rửa sạch phơi khô [1].
T nh vị và công năng: Vị đắng, hơi cay; có tác dụng chữa sốt, sốt rét cơn, kinh giản, giải độc, nhất là khi bị rắn độc cắn, chữa mụn nhọt, viêm tuyến v , sốt rét, ho lao, ho lâu ngày, hen suyễn [1]… Li u dùng: Ngày uống 4 – 12 gam thân rễ dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài với tác dụng sát trùng, tiêu sưng, giã thân rễ đắp lên những nơi sưng đau, vết rắn cắn, tràng nhạc, mụn lở, nhọt [1]. Ở Trung Quốc, các loài thuộc chi Paris được sử dụng chữa gãy xương, chứng co giật, c m máu, đi u tiết miễn dịch và sử dụng như là thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, thuốc hạ sốt, thuốc ho, thuốc kháng sinh, thuốc động kinh, thuốc thanh lọc cơ thể [35, 72, 74 – 75]. Ở Ấn Độ, thân rễ loài P.
polyphylla sử dụng để trị giun sán và làm thuốc bổ [29]. Tại Nepal, các loài thuộc chi Paris được thu hái tự nhiên dùng làm thuốc trị giun sán, bệnh dạ dày và làm long đờm [7]. Tình hình nghiên cứu hoạt tính sinh học của các loài trong chi Paris 1. Hoạt tính chống ung thư Ung thư là một bệnh không lây nhiễm, trong đó một số tế bào của cơ thể phát triển ngoài t m kiểm soát, d n đến các khối u ác t nh di căn đến các vùng khác của cơ thể.
Tốc độ phân chia tế bào và sự tiêu hao tế bào quyết định sự gia tăng của tế bào ung thư. Tốc độ phát triển của tế bào trong tế bào ung thư không được kiểm soát d n đến sự xâm lấn của khối u. Do tỷ lệ tử vong cao, ung thư là một vấn đ nghiêm trọng ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, có 1.450 trường hợp ung thư mới và 606.880 trường hợp tử vong do ung thư ở Hoa 6 Kỳ vào năm 2019 [51].
Do đó, một số loại thuốc chống ung thư phải được sử dụng để th c đẩy quá trình tự chết của tế bào ung thư.