CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ung thư ở người cao tuổi 1. Người cao tuổi Năm 1980, Liên hợp quốc lấy 60 tuổi làm mốc qui ước để phân định độ tuổi cần quan tâm về mặt sức khỏe, tổ chức xã hội, phòng bệnh và chữa bệnh: những người từ 60 tuổi trở lên là NCT. Còn ở các quốc gia phát triển và Hoa Kỳ thì NCT là những người ≥ 65 tuổi.
Tại Việt Nam, Pháp lệnh NCT số 39/2009/QH12 thì NCT được quy định là công dân Việt Nam đủ 60 tuổi trở lên. NCT có thể được phân ra làm ba nhóm: sơ lão (60 – 69 tuổi), trung lão (70 – 79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên)19. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, năm 2022 tỉ lệ người ≥ 65 tuổi chiếm 9,7% dân số toàn cầu, con số này vào năm 2030 là 11,7% và đến năm 2050 là 16,4%. Từ năm 2022 đến năm 2050, dự báo tỉ lệ gia tăng người ≥ 65 tuổi lớn hơn 3%/năm gồm các khu vực Bắc Phi, Tây Á, Châu Phi cận Sahara, Châu Đại Dương (ngoại trừ Úc và New Zealand), khu vực Trung và Nam Á3.
Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Trong giai đoạn 2019-2021, tổng dân số Việt Nam tăng thêm 2,07 triệu người (từ 96,21 triệu lên 98,28 triệu) thì dân số NCT (≥60 tuổi) tăng thêm 1,17 triệu người (từ 11,41 triệu lên 12,58 triệu, tương ứng với tăng từ 11,9% tổng dân số lên 12,8% tổng dân số). Việt Nam vẫn trong thời kỳ già hóa dân số. Những người từ 60 tuổi trở lên chiếm 11,9% tổng dân số vào năm 2019 và đến năm 2050, con số này sẽ tăng lên hơn 25%.
Dự kiến đến năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”20. Ung thư Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể21. 5 Ung thư không phải là một bệnh mà là nhiều bệnh, người ta biết được có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau. Phần lớn các bệnh là tên của cơ quan hoặc loại tế bào mà bệnh khởi phát.
Ví dụ, ung thư bắt đầu từ đại tràng gọi là ung thư đại tràng, ung thư bắt đầu từ tế bào hắc tố gọi là ung thư hắc tố. Tế bào ung thư với đặc điểm tổn thương đa hình thái, nhân tế bào ung thư không đều nhau, chất màu không đều, tỉ lệ nhân trên nguyên sinh chất cao, bờ nhân không đều, hạt nhân rõ, nhiều nhân quái, nhân chia. Nguyên sinh chất thẫm màu, kiềm tính. Tế bào ít biệt hoá, chỉ gợi lại các tế bào cơ sở bình thường ban đầu, sắp xếp hỗn độn, tế bào non chiếm ưu thế, các tế bào rất không giống nhau về khối lượng, màu sắc, hình thái21.
Tính xâm lấn của ung thư Khối u xâm lấn vào các tổ chức xung quanh giống như hình “con cua” với các càng cua bám chặt vào tổ chức xung quanh, phá huỷ tổ chức lành, không di động khi sờ nắn. Tính di căn của ung thư Di căn là hiện tượng một hay nhiều tế bào ung thư di chuyển từ vị trí nguyên phát sang vị trí mới, cách vị trí nguyên phát một khoảng cách nào đó, tiếp tục quá trình tăng trưởng tại vị trí mới và cuối cùng gây tử vong. Tế bào ung thư có thể di căn theo các đường sau: theo đường bạch huyết, theo đường máu, di căn theo đường kế cận, dao mổ, dụng cụ phẫu thuật cũng có thể cấy tế bào ung thư ra nơi khác nếu các dụng cụ này mổ trực tiếp vào khối u. Dịch tễ học ung thư ở người cao tuổi Quá trình lão hóa bắt đầu sau khi trưởng thành, rồi liên tục biến đổi thoái hóa, phục hồi và sự biến đổi bù trừ này tiếp diễn theo thời gian, dẫn tới giảm khả năng phục hồi, dễ bị tổn thương đặc biệt tăng khả năng mắc bệnh; hậu quả làm giảm tuổi thọ.
Điều quan trọng là quá trình lão hóa không gây bệnh; tuy nhiên lão hóa làm hạ thấp ngưỡng cho sự phát triển bệnh và làm nặng thêm hậu quả khi bệnh xuất hiện, người ta ước tính thấy ung thư chiếm 27,1% các vấn đề liên quan đến quá trình lão hóa22 (Biểu đồ 1. 6 18,5% Bệnh tim mạch 4% 39,6% Ung thư 5,6% 5,2% Đái tháo đường Bệnh thận 27,1% Trí nhớ và thần kinh Bệnh lý khác Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ các bệnh lý liên quan đến quá trình lão hóa Nguồn: Võ Thành Nhân, Nguyễn Văn Trí, Thân Hà Ngọc Thể (2021)22 Tần suất ung thư tăng theo tuổi. Già hóa dân số làm tần suất của các ung thư đều gia tăng. Tại Hoa Kỳ, tỉ lệ các loại ung thư đều gia tăng đến tuổi 8523.
Ung thư chiếm 20,7% các nguyên nhân gây tử vong ở nhóm từ ≥ 65 tuổi và chiếm 11,8% các nguyên nhân gây tử vong ở nhóm ≥ 85 tuổi24 (Hình 1.1: Tỉ lệ hiện mắc ung thư theo nhóm tuổi tại Hoa Kỳ Nguồn: Laconi Ezio và cộng sự (2020)23. 7 Tại Việt Nam, theo thống kê năm 2020 của GLOBOCAN, ung thư gan, phổi, vú, dạ dày và đại trực tràng là 5 loại ung thư thường gặp nhất ở người trưởng thành (Biểu đồ 1. Xét riêng theo giới thì ung thư gan (20,5%), phổi (18,9%), dạ dày (11,2%), đại trực tràng (9%), tiền liệt tuyến (6,3%) là 5 loại ung thư thường gặp nhất. Còn ở nữ giới thì ung thư vú (25,8%), phổi (9,1%), đại trực tràng (9%), dạ dày (8,2%) và gan (7,4%) là 5 loại thường gặp nhất1 (Biểu đồ 1.
Gan 14,5% Phổi 40,5% 14,4% Vú 11,8% Dạ dày 9% 9,8% Đại trực tràng Khác Biểu đồ 1.2: Tỉ lệ các loại ung thư thường gặp ở người trưởng thành tại Việt Nam năm 2020. Nguồn: GLOBOCAN (2020)1 Nữ Nam Biểu đồ 1.3: Tỉ lệ các loại ung thư thường gặp ở hai giới tại Việt Nam năm 2020. Đại cương về canxi máu 1. Canxi trong cơ thể Canxi là yếu tố quan trọng đối với chu trình tế bào, bao gồm các quá trình: co cơ, con đường đông máu, dẫn truyền tín hiệu nội bào, xuất bào.
Canxi rất quan trọng trong việc hình thành xương, là một trong hai khoáng chất chính trong xương. Nồng độ canxi toàn phần bình thường khoảng 2,2-2,6 mmol/L (8,5-10,5 mg/dL), trong đó khoảng 50% bị ion hóa. Cơ thể, đặc biệt tuyến cận giáp, điều hòa lượng canxi tự do thay vì nồng độ canxi toàn phần. Nồng độ canxi tự do trong dịch nội bào khoảng 100 nM và thấp hơn 10.000 lần so với nồng độ canxi ion hóa tự do trong máu và khoang dịch ngoại bào (1,1-1,3 mmol/L).
Khoảng 50% canxi máu còn lại được gắn với albumin. Một lượng nhỏ canxi ở dạng khuếch tán, không ion hóa. Canxi ion hóa cạnh tranh với ion hydro để liên kết với albumin. Albumin thấp không làm thay đổi nồng độ canxi tự do, không có ảnh hưởng trên bệnh nhân.
Nhiễm kiềm làm giảm sự liên kết ion hydro với albumin dẫn đến sự gia tăng tương ứng sự gắn kết canxi và sự giảm theo nồng độ canxi tự do, trong nhiễm toan thì ngược lại. Khi pH huyết thanh thay đổi, bệnh nhân có thể có triệu chứng vì nồng độ canxi tự do thay đổi cấp tính25 (Hình 1.2: Ảnh hưởng của pH và albumin máu đến nồng độ canxi máu Nguồn: Wondisford F E (2020)25. Điều hòa canxi trong cơ thể 1. Vai trò của hormon tuyến cận giáp Có 4 tuyến cận giáp trong cơ thể, nằm ngay sau tuyến giáp: hai tuyến ở cực trên và hai tuyến ở cực dưới tuyến giáp (Hình 1.
Đầu tiên, hormon tuyến cận giáp được tổng hợp tại các Riosome ở dạng preprohormon, là một protein có 110 acid amin. Sau đó preprohormon được cắt ra thành prohormon có 90 acid amin, rồi được bộ máy Golgi chuyển hóa tiếp thành hormon chính thức có 84 acid amin với trọng lượng phân tử 9.3: Vị trí các tuyến cận giáp Nguồn: Frank H Nette và cộng sự (1996)26 Hormon tuyến cận giáp tác dụng trên màng tế bào làm cho canxi đi vào tế bào một cách tích cực và dễ dàng. Hoạt hóa adenylcylase của màng tế bào làm tăng sản xuất 3’5’ – Adenosine Monophosphate vòng (cAMP), chất này ngăn chặn canxi đi vào các ti lạp thể và các microsom. Kết quả làm tăng nồng độ canxi ion hóa trong bào tương, dẫn đến thay đổi hoạt động của các ezyme phụ thuộc canxi25.
Hormon tuyến cận giáp về cơ bản là một hormon làm tăng canxi máu và phosphate niệu. Hoạt động của nó thể hiện ở 3 nơi:. 10 - Ở xương: nó làm gia tăng tốc độ thay thế xương trong đó tác dụng hủy cốt bào chiếm ưu thế. Nó hoạt hóa hủy cốt bào, bằng cách tạo thuận lợi cho sự xuất hiện các lỗ khuyết tiêu xương và giải phóng canxi của xương do tác dụng hiệp đồng với 1,25-dihydroxyvitamin D3.
- Ở thận: hormon tuyến cận giáp tạo thuận lợi cho sự tái hấp thu canxi ở ống thận, trong khi đó canxi niệu vẫn tăng một cách thụ động do hậu quả của canxi máu tăng làm cho canxi được lọc cũng tăng theo. Còn hormon tuyến cận giáp làm giảm tái hấp thu phospho cũng như các ion H+ và Mg2+ ở ống thận. - Ở ruột: hormon tuyến cận giáp làm tăng tái hấp thu canxi, qua tác dụng gián tiếp của 1,25-dihydroxyvitamin D3. Tác dụng này bị hóa giải bởi các glucocorticoid25.
Vai trò của hormon calcitriol (vitamin D3) Calcitriol có vai trò làm tăng nồng độ canxi máu thông qua cơ chế tác động trên thụ thể nhân đặc hiệu tại các tế bào biểu mô của ruột non và ống thận (chủ yếu là ống lượn xa, ống góp). Phức hợp calcitriol-thụ thể giúp hấp thu canxi vào máu bằng cách làm tăng sự biểu hiện các protein tham gia vận chuyển ion Ca2+ xuyên qua tế bào như: TRPV5, TRPV6, calbindin-D, NCX1 và PMCA1b. Ở người, chức năng của calcitriol trong việc huy động canxi từ xương là không rõ ràng25. Calcitriol trong huyết tương được điều hòa bởi hormon tuyến cận giáp, FGF-23, nồng độ canxi và phosphat.
Hormon tuyến cận giáp có vai trò kích hoạt enzyme 1-alpha-hydroxylase, thúc đẩy phản ứng tổng hợp calcitriol tại thận. Ngược lại, khi được bài tiết nhiều, calcitriol có tác dụng điều hòa âm lên các tuyến cận giáp, làm ức chế quá trình sản xuất và phóng thích hormon tuyến cận giáp. Do đó, ở các bệnh nhân suy thận mạn, khiếm khuyết tổng hợp calcitriol (làm mất cơ chế điều hòa ngược) được xem là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây cường cận giáp thứ phát. Ở trẻ em, thiếu hụt calcitriol sẽ đưa đến tình trạng còi xương.