Nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa có suy dinh dưỡng nặng - Luận án tiến sĩ Phạm Văn Nhân

Nghiên cứu hiệu quả phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu ở bệnh nhân tiêu hóa suy dinh dưỡng nặng. Tìm hiểu các cách điều trị và can thiệp dinh dưỡng hiệu

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu tiêu hóa

Hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu là chiến lược can thiệp dinh dưỡng toàn diện, bao gồm giai đoạn tiền phẫu, trong phẫu thuật và hậu phẫu. Mục tiêu nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng, giảm biến chứng và rút ngắn thời gian nằm viện. Suy dinh dưỡng là biến chứng phổ biến ở bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trong ngoại khoa dao động từ 30-50% tùy nhóm bệnh nhân. Bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng có nguy cơ biến chứng hậu phẫu cao gấp 2-3 lần so với người bình thường. Các biến chứng bao gồm nhiễm trùng vết mổ, hở miệng nối, suy hô hấp và tử vong. Đánh giá dinh dưỡng trước phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong việc xác định bệnh nhân cần can thiệp. Các công cụ đánh giá phổ biến gồm SGA (Đánh giá chủ quan toàn diện), NRS-2002 (Xếp hạng nguy cơ dinh dưỡng) và BMI. Nuôi dưỡng chu phẫu giúp cải thiện chức năng miễn dịch, tăng khả năng lành vết thương và phục hồi sau phẫu thuật. Nghiên cứu của Phạm Văn Nhân (2021) tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh đã chứng minh hiệu quả của can thiệp dinh dưỡng chu phẫu trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa có suy dinh dưỡng nặng.

1.1. Định nghĩa và nguyên nhân suy dinh dưỡng ngoại khoa

Suy dinh dưỡng ngoại khoa là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết, ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng cơ thể ở bệnh nhân cần phẫu thuật. Nguyên nhân chính bao gồm: giảm hấp thu do bệnh lý tiêu hóa, tăng nhu cầu năng lượng do quá trình viêm, chán ăn do đau đớn và lo lắng, mất protein qua đường tiêu hóa. Ở bệnh nhân ung thư tiêu hóa, tình trạng này càng trầm trọng hơn do khối u tiêu hao năng lượng và giải phóng các cytokine gây viêm. Biểu hiện lâm sàng gồm sụt cân, giảm mỡ dưới da, teo cơ và phù nề. Theo tài liệu nghiên cứu, bệnh nhân mất hơn 10% cân nặng trong vòng 6 tháng có nguy cơ biến chứng hậu phẫu tăng đáng kể.

1.2. Tác hại của suy dinh dưỡng đến kết quả phẫu thuật

Suy dinh dưỡng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả phẫu thuật tiêu hóa. Hệ miễn dịch suy giảm dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và nhiễm trùng huyết. Khả năng lành miệng nối ống tiêu hóa bị ảnh hưởng do thiếu protein và vi chất dinh dưỡng. Chức năng hô hấp suy giảm vì teo cơ hô hấp, dẫn đến nguy cơ viêm phổi hậu phẫu cao. Thời gian nằm viện kéo dài làm tăng chi phí điều trị và giảm chất lượng cuộc sống. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng cao hơn 3-5 lần so với bệnh nhân dinh dưỡng bình thường. Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận suy dinh dưỡng là yếu tố nguy cơ độc lập đối với biến chứng hậu phẫu nặng.

II. Phân tích vấn đề suy dinh dưỡng ở bệnh nhân phẫu thuật

Tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa thường bị đánh giá thấp và bỏ sót trong thực hành lâm sàng. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng tại các bệnh viện Việt Nam dao động từ 30-60%. Nguyên nhân bỏ sót do thiếu quy trình sàng lọc dinh dưỡng chuẩn, thiếu nhân lực được đào tạo và áp lực công việc cao. Bệnh nhân nhập viện với suy dinh dưỡng nặng thường có chỉ số SGA mức C hoặc NRS trên 5 điểm. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi cao, bệnh lý nền như đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư và suy gan thận. Hội chứng nuôi ăn lại là biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra khi bắt đầu nuôi dưỡng trở lại ở bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng. Triệu chứng bao gồm hạ kali máu, hạ phospho máu, phù nề và suy tim. Việc phát hiện sớm và phòng ngừa hội chứng nuôi ăn lại đòi hỏi theo dõi chặt chẽ các chỉ số sinh hóa. Tỷ lệ biến chứng hậu phẫu ở nhóm bệnh nhân này cao hơn đáng kể so với nhóm dinh dưỡng bình thường.

2.1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng công cụ SGA và NRS

SGA (Subjective Global Assessment) là công cụ đánh giá dinh dưỡng lâm sàng được sử dụng rộng rãi trong ngoại khoa. SGA phân loại bệnh nhân thành ba mức: A (dinh dưỡng bình thường), B (suy dinh dưỡng trung bình) và C (suy dinh dưỡng nặng). Các tiêu chí đánh giá bao gồm thay đổi cân nặng, tình trạng tiêu hóa, khả năng hoạt động và thăm khám lâm sàng. NRS-2002 là công cụ sàng lọc dinh dưỡng được khuyến cáo bởi Hiệp hội Dinh dưỡng Lâm sàng châu Âu. Điểm NRS tính dựa trên mức độ suy dinh dưỡng kết hợp với mức độ nặng của bệnh. Bệnh nhân có điểm NRS từ 3 trở lên cần can thiệp dinh dưỡng. Việc kết hợp cả hai công cụ giúp đánh giá chính xác hơn tình trạng dinh dưỡng và tiên lượng nguy cơ biến chứng.

2.2. Nguy cơ hội chứng nuôi ăn lại và biến chứng hậu phẫu

Hội chứng nuôi ăn lại xảy ra khi bắt đầu nuôi dưỡng trở lại ở bệnh nhân nhịn ăn kéo dài hoặc suy dinh dưỡng nặng. Cơ chế do insulin tăng tiết đột ngột kéo kali, phospho và magie từ máu vào tế bào. Hậu quả gây hạ kali máu, hạ phospho máu dẫn đến rối loạn nhịp tim, suy hô hấp và co giật. Phòng ngừa bằng cách khởi đầu nuôi dưỡng với tốc độ chậm, cung cấp 10 kcal/kg/ngày trong 2-3 ngày đầu. Theo dõi điện giải máu 6-12 giờ một lần trong giai đoạn đầu. Bổ sung kali, phospho và magie trước khi bắt đầu nuôi dưỡng. Biến chứng hậu phẫu ở bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng bao gồm nhiễm trùng, hở miệng nối, suy hô hấp và tử vong.

III. Phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu hiệu quả

Hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu bao gồm hai đường nuôi dưỡng chính: nuôi dưỡng đường ruột (NATH) và nuôi dưỡng đường tĩnh mạch (NDTM). Nuôi dưỡng đường ruột được ưu tiên sử dụng khi ống tiêu hóa còn hoạt động. Đường nuôi dưỡng qua miệng, qua ống thông dạ dày hoặc ống thông hỗng tràng. Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch áp dụng khi đường ruột không dung nạp hoặc chống chỉ định. Năng lượng mục tiêu tiền phẫu là 30 kcal/kg cân nặng điều chỉnh mỗi ngày. Năng lượng mục tiêu hậu phẫu là 25 kcal/kg cân nặng điều chỉnh mỗi ngày. Protein cần cung cấp 1,2-1,5 gam/kg cân nặng mỗi ngày để đảm bảo cân bằng ni-tơ dương. Tốc độ nuôi dưỡng được tăng dần trong 2-3 ngày để đạt năng lượng mong muốn. Theo dõi đường huyết, điện giải và cân bằng dịch là bắt buộc. Kiểm tra đường huyết ban đầu mỗi 6 giờ, sau đó mỗi ngày. Điều chỉnh dịch truyền dựa trên kết quả xét nghiệm và tình trạng lâm sàng. Nuôi dưỡng chu phẫu giúp cải thiện tỷ lệ lành miệng nối và giảm biến chứng nhiễm trùng.

3.1. Kỹ thuật nuôi dưỡng đường ruột và đường tĩnh mạch

Nuôi dưỡng đường ruột (NATH) sử dụng dịch sữa chuyên dụng với thành phần cân đối về protein, carbohydrate, chất béo, vitamin và khoáng chất. Lượng dịch truyền ban đầu từ 500 ml/ngày, tăng dần đạt mục tiêu năng lượng trong 3-5 ngày. Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch (NDTM) sử dụng dịch truyền qua catheter tĩnh mạch trung tâm. Dịch NDTM chứa glucose, amino acid, lipid, điện giải và vitamin. Chất béo chiếm 10-15% tổng năng lượng để ngăn ngừa tăng đường huyết. Khi NDTM kéo dài cần chú ý biến chứng nhiễm trùng catheter, viêm tắc tĩnh mạch và rối loạn chuyển hóa. Kết hợp cả hai đường nuôi dưỡng giúp tối ưu hóa cung cấp dinh dưỡng và giảm biến chứng.

3.2. Theo dõi và điều chỉnh trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Theo dõi liên tục các chỉ số sinh hóa là yếu tố quan trọng trong nuôi dưỡng chu phẫu. Xét nghiệm huyết đồ, ure máu, chức năng gan, phospho và magie thực hiện hàng tuần. Đường huyết thanh kiểm tra ít nhất một lần mỗi ngày trong vài ngày đầu. Nếu glucose máu cao, cần giảm thành phần đường hoặc thêm insulin vào dịch truyền. Kali cần bổ sung để đạt cân bằng ni-tơ dương và thay thế kho dự trữ nội bào. Theo dõi cân bằng xuất nhập dịch và cân nặng hàng ngày. Điều chỉnh số lượng và thành phần dịch truyền thường xuyên theo diễn biến lâm sàng. Chỉ số protein máu, hemoglobin và các marker viêm được đánh giá định kỳ để đánh giá đáp ứng dinh dưỡng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa có suy dinh dưỡng nặng. Kết quả cho thấy cải thiện đáng kể các chỉ số dinh dưỡng sau phẫu thuật. Tỷ lệ biến chứng hậu phẫu giảm rõ rệt ở nhóm được can thiệp dinh dưỡng chu phẫu. Thời gian nằm viện trung bình ngắn hơn so với nhóm không được can thiệp đầy đủ. Chi phí điều trị giảm do ít biến chứng và thời gian nằm viện ngắn hơn. Nuôi dưỡng đường ruột được ưu tiên khi ống tiêu hóa hoạt động bình thường. Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch đóng vai trò bổ sung khi đường ruột không đáp ứng. Việc đánh giá dinh dưỡng bằng công cụ SGA và NRS giúp xác định đúng bệnh nhân cần can thiệp. Phòng ngừa hội chứng nuôi ăn lại đòi hỏi khởi đầu nuôi dưỡng chậm và theo dõi điện giải chặt chẽ. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học cho thực hành lâm sàng tại Việt Nam. Các bệnh viện nên xây dựng quy trình sàng lọc và can thiệp dinh dưỡng chu phẫu tiêu chuẩn.

4.1. Ý nghĩa khoa học và hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu trong bối cảnh y tế Việt Nam. Đây là luận án tiến sĩ y học được thực hiện tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh năm 2021. Kết quả nghiên cứu phù hợp với các khuyến cáo quốc tế về dinh dưỡng lâm sàng ngoại khoa. Nghiên cứu áp dụng thiết kế tiến cứu có đối chứng, đảm bảo tính khoa học. Hạn chế bao gồm cỡ mẫu giới hạn tại một trung tâm y tế. Thời gian theo dõi ngắn hạn, chưa đánh giá kết quả lâu dài. Nghiên cứu cần được mở rộng đa trung tâm để tăng tính tổng quát hóa.

4.2. Ứng dụng trong thực hành lâm sàng và đào tạo

Kết quả nghiên cứu áp dụng trực tiếp vào thực hành lâm sàng ngoại khoa tiêu hóa. Các bệnh viện nên xây dựng đội ngũ dinh dưỡng đa chuyên khoa bao gồm bác sĩ phẫu thuật, chuyên gia dinh dưỡng và điều dưỡng. Quy trình sàng lọc dinh dưỡng bằng SGA và NRS cần được thực hiện cho tất cả bệnh nhân nhập viện phẫu thuật. Phác đồ hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu nên được chuẩn hóa theo từng loại phẫu thuật. Đào tạo nhân viên y tế về nhận biết và phòng ngừa hội chứng nuôi ăn lại là cần thiết. Nghiên cứu cũng có ý nghĩa trong đào tạo sau đại học về dinh dưỡng lâm sàng ngoại khoa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ dinh dưỡng chu phẫu trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa có suy dinh dưỡng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dƣỡng (DD) là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày, nhu cầu này càng trở nên quan trọng hơn đối với bệnh nhân (BN). Trong khi tỷ lệ suy dinh dƣỡng (SDD) chung của toàn xã hội ngày một giảm đi, tỷ lệ SDD của BN nhập viện vẫn còn cao và tiếp tục tăng lên trong quá trình nằm viện. Suy dinh dƣỡng gây tác động xấu đến kết quả điều trị của nhiều chuyên khoa. Riêng với ngoại khoa, SDD làm gia tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong sau phẫu thuật (PT), làm giảm chất lƣợng cuộc sống của BN, gia tăng chi phí và thời gian nằm viện [1], [8], [9], [11], [35], [40], [83], [87], [110], [115].

Trong số các BN nằm viện, BN thuộc chuyên khoa tiêu hóa có tỷ lệ SDD cao hơn hẳn do khả năng tiêu hóa của BN bị tác động trực tiếp bởi chính các bệnh đƣờng tiêu hóa [8], [35], [51], [87], [110]. Một nghiên cứu ở Anh gần đây về tỷ lệ SDD ở BN nằm viện cũng chỉ ra rằng tỷ lệ này cao nhất thuộc về các BN phẫu thuật tiêu hóa [102]. Phẫu thuật trên ống tiêu hóa còn có tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn so với các PT khác vì nguy cơ phơi nhiễm với vi khuẩn trong lòng ruột [2], [6], tỷ lệ biến chứng hậu phẫu lại gia tăng nếu thực hiện trên BN có SDD nặng trƣớc phẫu thuật. Đứng trƣớc một BN cần PT đƣờng tiêu hóa có SDD nặng, phẫu thuật viên thƣờng phải cân nhắc.

Các lựa chọn có thể là PT tạm thời mà chƣa làm miệng nối, PT triệt để và làm miệng nối thì đầu với chấp nhận một tỷ lệ biến chứng hậu phẫu khá cao, hay hỗ trợ DD chu phẫu kết hợp với PT triệt để một thì với hy vọng một kết cục ngoại khoa tốt hơn. Khi chọn hƣớng hỗ trợ DD chu phẫu, vấn đề đặt ra là liệu BN đang mắc các bệnh ngoại khoa hay ung thƣ đƣờng tiêu hóa tiến triển thì nuôi dƣỡng có làm cải thiện tình trạng SDD, thời gian hỗ trợ dinh dƣỡng 7-10 ngày có đủ để giúp miệng nối tiêu hóa lành tốt hơn và giảm các biến chứng hậu phẫu. Đối với BN ung thƣ có SDD nặng, việc đánh giá DD từ lúc mới nhập viện và hỗ trợ DD tích cực trong giai đoạn chu phẫu có thể làm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong sau PT, góp phần quyết định đáng kể đến kết cục lâu dài cho BN [56], [60]. 2 Các nghiên cứu về DD chu phẫu ở BN phẫu thuật tiêu hóa có SDD trên thế giới nhìn chung hƣớng đến xác định mối liên quan giữa SDD tiền phẫu và kết cục hạn chế sau PT, cũng nhƣ đánh giá hiệu quả của can thiệp DD chu phẫu trên việc giảm tỷ lệ biến chứng hậu phẫu, giảm thời gian và chi phí nằm viện.

Dù đã có các hƣớng dẫn thực hành lâm sàng dành cho BN có SDD cần PT, không phải các trung tâm ngoại khoa, kể cả ở các nƣớc phát triển, đều sàng lọc DD tiền phẫu hàng loạt và áp dụng hỗ trợ DD chu phẫu một cách hiệu quả. Việc áp dụng hỗ trợ DD chu phẫu chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi còn do sự lo ngại gia tăng chi phí và thời gian nằm viện kéo dài do can thiệp DD, cũng nhƣ thiếu hụt đội ngũ chuyên khoa làm DD. Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chƣa có một nghiên cứu can thiệp DD chu phẫu nào trên lâm sàng cho BN phẫu thuật tiêu hóa có SDD nặng. Suy dinh dƣỡng tác động lên PT tiêu hóa qua 3 nguy cơ chính: khó lành vết thƣơng gây xì rò miệng nối hay bung thành bụng, suy giảm miễn dịch gây nhiễm trùng hậu phẫu, suy chức năng tế bào gây biến chứng suy tạng hậu phẫu.

Trong đó, xì rò miệng nối là biến chứng đáng ngại nhất. Nghiên cứu biến chứng ở bệnh nhân SDD sau PT có miệng nối tiêu hóa nhằm chủ yếu khảo sát các biến chứng trên. Câu hỏi nghiên cứu là: hỗ trợ DD chu phẫu kết hợp với PT tiêu hóa có miệng nối cho bệnh nhân SDD nặng có thật sự khả thi, có cải thiện đƣợc tình trạng DD của BN hay không, có tác động nhƣ thế nào trên biến chứng hậu phẫu, thời gian và chi phí nằm viện ? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu can thiệp DD chu phẫu kết hợp với PT tiêu hóa cho bệnh nhân ngƣời lớn có SDD nặng với các mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau: 1. Xác định đặc điểm bệnh lý ở bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa ngƣời lớn có SDD nặng.

Đánh giá hiệu quả về dinh dƣỡng và tính an toàn của liệu pháp hỗ trợ DD chu phẫu trên BN phẫu thuật tiêu hóa có SDD nặng. Đánh giá tỷ lệ biến chứng và tử vong hậu phẫu, thời gian và chi phí nằm viện sau can thiệp DD chu phẫu. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và nguyên nhân của suy dinh dƣỡng Suy DD là tình trạng mất cân bằng giữa lƣợng thức ăn đƣa vào với nhu cầu hàng ngày của cơ thể, gây ra sự mất cân bằng về năng lƣợng, protein và các thành phần DD khác, làm biến đổi về chuyển hóa, tổn hại chức năng các tạng, mất khối lƣợng cơ thể và biến đổi các chỉ số cận lâm sàng [12], [83], [91], [103].

Suy DD có thể do bệnh tật gây ra chán ăn, kém hấp thu, suy mòn hay có thể do bỏ đói [33]. SDD có thể không có tình trạng viêm hoặc có tình trạng viêm mức độ nhẹ, vừa, hay nặng [64], [107]. Theo ESPEN, SDD là tình trạng thiếu cung cấp hay giảm hấp thu DD dẫn đến thay đổi thành phần cơ thể, giảm chức năng về tinh thần và thể chất, và suy giảm kết quả lâm sàng do bệnh [107]. Suy DD còn do quá trình dị hóa tích lũy, yếu tố quan trọng trong các bệnh lý chấn thƣơng hay viêm.

Trong khi SDD do thiếu ăn rất dễ hồi phục bằng hỗ trợ DD, cân bằng năng lƣợng và ni-tơ âm tính trong suốt giai đoạn dị hóa không thể phục hồi chỉ bằng liệu pháp DD, ngay cả khi đƣợc nuôi ăn thừa. Chỉ khi nào giai đoạn viêm bắt đầu cải thiện, BN mới có thể phục hồi các mô đã mất [63], [83], [107]. Ngoài ra, thuật ngữ SDD có thể dùng để miêu tả cả thiếu và thừa DD. Theo quan điểm này, SDD là tình trạng rối loạn DD bán cấp hay mạn tính, trong đó có sự kết hợp thừa DD hay thiếu DD và tình trạng viêm ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến thay đổi thành phần cấu trúc và suy giảm chức năng cơ thể [99], [107].

Các nguyên nhân gây SDD thƣờng gặp trong thực hành lâm sàng: - Cung cấp DD không đủ [102], [107]. - Các bệnh lý cấp hay mạn tính: tình trạng viêm, chấn thƣơng, phẫu thuật, nhiễm trùng, rối loạn chuyển hóa, tăng nhu cầu DD do bệnh, chán ăn, rối loạn chức năng tiêu hóa và hấp thu [12], [83]. - Tác động dị hóa của các hóa chất trung gian nhƣ cytokine, glucocorticoid, catecholamine gây ra và làm trầm trọng thêm tình trạng SDD, thấy rõ nhất ở BN bị stress sau PT hay BN nặng với thở máy và dùng thuốc vận mạch [83]. 4 - Tác dụng phụ của thuốc [83].

- Tuổi già, sa sút trí tuệ, ngƣời tàn tật, điều kiện kinh tế xã hội thấp [83]. - Sự hạn chế về kỹ năng thực hành DD của nhân viên y tế [119]. - Đối với BN phẫu thuật tiêu hóa, lƣợng dƣỡng chất đƣa vào bị giảm hay thất thoát do: ung thƣ, tắc ruột, hẹp môn vị, xuất huyết tiêu hóa, hội chứng ruột ngắn, kém hấp thu, rò tiêu hóa, tiêu chảy, liệt ruột sau mổ [35], [110]. Tác hại của suy dinh dƣỡng và lợi ích của hỗ trợ dinh dƣỡng chu phẫu 1.

Các tác hại của suy dinh dƣỡng Suy DD tác động xấu đến cấu trúc và chức năng của nhiều hệ cơ quan: - Suy giảm chức năng nhận thức, lo lắng, trì trệ, trầm cảm [106]. - Chức năng các cơ và thể tích khối cơ giảm, làm hạn chế vận động [106]. - Chức năng tim mạch suy giảm do giảm thể tích và sức co bóp của cơ tim, chậm nhịp tim, hạ huyết áp, suy tuần hoàn ngoại vi [106]. - Chức năng thận suy giảm do giảm thể trọng và tƣới máu của thận [106].

- Chức năng hô hấp suy giảm do biến đổi cấu trúc và chức năng các cơ hô hấp, giảm O2 và tăng CO2 máu, thay đổi kiểu hô hấp, cai máy thở khó khăn [106]. - Giảm khối lƣợng và chức năng của gan và tụy, giảm bề mặt hấp thu của ruột, giảm bài tiết dịch tiêu hóa, dẫn đến giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu [106]. - Hạn chế khả năng điều hòa thân nhiệt do giảm đáp ứng sinh nhiệt và co mạch, có thể không sốt ngay cả khi có tình trạng nhiễm trùng nặng [106]. - Khả năng đề kháng với nhiễm trùng bị suy giảm nghiêm trọng [106].

Trong ngoại khoa, quá trình lành vết thƣơng cần sự tăng sinh tế bào, tổng hợp protein, các chất xây dựng tại chỗ, hoạt động của enzyme và năng lƣợng. Thông thƣờng, axit amin đƣợc huy động từ kho dự trữ protein ở cơ và xƣơng, glucose đƣợc tạo ra từ gan. Bệnh nhân SDD không có nguồn dự trữ sẽ chậm lành vết thƣơng. Khi SDD liên quan đến đáp ứng viêm hệ thống, quá trình lành vết thƣơng hầu nhƣ bị chặn lại.

Suy DD ngăn chặn lành vết thƣơng do kéo dài giai đoạn viêm, trì hoãn tái sinh mạch và tân sinh tế bào sợi, giảm tổng hợp proteoglycan và collagen. Chậm lành vết thƣơng và tình trạng viêm kéo dài làm SDD nặng thêm [96], [97], [106]. 5 Bệnh nhân SDD có thể hạ đƣờng huyết sau mổ do giảm khả năng dự trữ đƣờng [97]. Suy DD mà đặc biệt là Suy DD nặng làm gia tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong hậu phẫu nói chung [35], [87], [108], [110] và sau PT tiêu hóa nói riêng [29].

Suy DD làm gia tăng tỷ lệ xì rò miệng nối, bung thành bụng, nhiễm trùng hậu phẫu và suy tạng sau mổ [1], [3], [9], [38], [87]. Chậm lành vết thƣơng, chậm phục hồi sau mổ, kéo dài thời gian nằm viện do biến chứng hậu phẫu, điều trị trở nên phức tạp, tất cả dẫn đến gia tăng công sức, chi phí và thời gian điều trị một cách đáng kể. Suy DD làm giảm chất lƣợng cuộc sống và rút ngắn thời gian sống còn của BN sau PT ung thƣ [1], [9], [29], [35], [87]. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, thời gian nằm viện tăng gấp đôi, chi phí điều trị tăng từ 60% đến 300% ở các BN có SDD [40], [115].

Theo Curtis, chi phí điều trị ở BN có SDD nặng với SGA.C sẽ tăng 55% so với BN không SDD [42].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ