I. Tổng quan về điều trị sỏi đường mật trong gan qua đường hầm ống Kehr
Sỏi đường mật trong gan là bệnh lý thường gặp tại Việt Nam và các nước châu Á. Bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm đường mật, áp xe gan, xơ gan mật. Phương pháp điều trị truyền thống bằng phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi thường không lấy sạch hoàn toàn sỏi trong gan. Tỷ lệ sót sỏi sau mổ dao động từ 20-40%. Đường hầm ống Kehr được tạo ra sau phẫu thuật mở ống mật chủ. Đây là con đường tiếp cận an toàn đến đường mật trong gan. Ống soi mềm cho phép quan sát trực tiếp các nhánh đường mật. Kỹ thuật này giúp phát hiện và lấy bỏ sỏi sót. Nghiên cứu năm 2021 tại Đại học Y Dược TP.HCM đánh giá hiệu quả của phương pháp này. Kết quả cho thấy tỷ lệ sạch sỏi cao, trên 85%. Biến chứng thấp và không có tử vong. Phương pháp này mở ra hướng điều trị mới cho bệnh nhân sỏi đường mật phức tạp.
1.1. Định nghĩa sỏi đường mật trong gan
Sỏi đường mật trong gan là tình trạng sỏi hình thành bên trong hệ thống đường mật nằm trong nhu mô gan. Sỏi có thể là sỏi nguyên phát hoặc thứ phát. Sỏi nguyên phát hình thành ngay trong đường mật gan. Sỏi thứ phát di chuyển từ ống mật chủ lên. Tại Việt Nam, sỏi sắc tố mật là loại thường gặp nhất. Bệnh thường liên quan đến nhiễm trùng đường mật và ký sinh trùng. Phân loại theo vị trí giúp định hướng điều trị phù hợp.
1.2. Vai trò của đường hầm ống Kehr trong điều trị
Ống Kehr được đặt trong ống mật chủ sau phẫu thuật mở lấy sỏi. Đường hầm hình thành xung quanh ống Kehr sau 6-8 tuần. Đường hầm này tạo kênh tiếp cận trực tiếp đến đường mật. Bác sĩ có thể đưa ống soi mềm qua đường hầm để quan sát. Kỹ thuật này thay thế cho phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng truyền thống. Ưu điểm lớn nhất là khả năng tiếp cận các nhánh đường mật sâu trong gan. Đây là bước tiến quan trọng trong chiến lược điều trị nhiều giai đoạn.
II. Phân tích vấn đề sót sỏi sau phẫu thuật mở ống mật chủ
Phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi là phương pháp phổ biến tại Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ sót sỏi sau mổ vẫn còn cao. Theo nghiên cứu của Hoàng Bắc, tỷ lệ sót sỏi qua soi đường mật trong mổ là 30,8%. Nguyên nhân chính là cấu trúc giải phẫu đường mật trong gan phức tạp. Các nhánh đường mật phân chia nhiều cấp độ. Ống soi cứng khó tiếp cận các vị trí sâu. Sỏi thường nằm ở các nhánh ngoại vi gan. Mổ lại ngay sau phẫu thuật mở nguy hiểm cho bệnh nhân. Phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng cũng gặp hạn chế. Tỷ lệ lấy sạch sỏi trong gan qua ngả miệng chỉ đạt khoảng 60%. Các kỹ thuật tán sỏi hỗ trợ cải thiện nhưng chưa đủ. Vì vậy cần phương pháp tiếp cận khác hiệu quả hơn. Đường hầm ống Kehr là giải pháp khả thi cho vấn đề này.
2.1. Tỷ lệ sót sỏi và nguyên nhân
2.2. Hạn chế của các phương pháp điều trị hiện có
III. Phương pháp điều trị qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm
Phương pháp điều trị qua đường hầm ống Kehr sử dụng ống soi mềm đường mật. Thời điểm can thiệp thường từ 6-8 tuần sau phẫu thuật mở. Đường hầm ống Kehr đã hình thành ổn định vào lúc này. Ống soi mềm có đường kính nhỏ, linh hoạt. Thiết bị cho phép quan sát toàn bộ hệ thống đường mật trong gan. Bác sĩ có thể tiếp cận các nhánh đường mật cấp 3, cấp 4. Kỹ thuật tán sỏi điện thủy lực được sử dụng cho sỏi lớn. Sỏi được phá vỡ thành mảnh nhỏ hơn. Sau đó dùng rọ hoặc bóng để lấy sỏi ra ngoài. Nong đường mật bằng bóng xử lý hẹp đường mật kèm theo. Quy trình có thể thực hiện nhiều lần cho đến khi sạch sỏi. Mỗi lần can thiệp cách nhau vài ngày đến một tuần. Phương pháp này an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp. Không ghi nhận tử vong trong các nghiên cứu báo cáo. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 85-91% tùy theo nghiên cứu khác nhau.
3.1. Kỹ thuật soi đường mật qua đường hầm ống Kehr
3.2. Tán sỏi điện thủy lực trong điều trị
IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng của phương pháp điều trị mới
Nghiên cứu năm 2021 tại Đại học Y Dược TP.HCM khẳng định hiệu quả của phương pháp. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 85,5% trong nghiên cứu của Lê Quan Anh Tuấn. Các nghiên cứu khác ghi nhận tỷ lệ từ 76,7% đến 91,1%. Phương pháp có tỷ lệ biến chứng thấp, không có tử vong. Đây là bước tiếp quan trọng trong chiến lược điều trị sỏi đường mật phức tạp. Phương pháp áp dụng cho bệnh nhân đã phẫu thuật mở ống mật chủ. Bệnh nhân có sót sỏi hoặc sỏi tái phát sau mổ. Đường hầm ống Kehr phải đủ rộng và ổn định. Thời gian can thiệp tối ưu là 6-8 tuần sau mổ. Hạn chế lớn nhất là thiếu dữ liệu theo dõi dài hạn. Sỏi tái phát sau điều trị chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nghiên cứu tương lai cần thời gian theo dõi lâu hơn. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều bệnh viện. Kết quả khả quan mở ra hướng phát triển mới cho ngoại mật học.