Tổng quan luận án
Sỏi đường mật trong gan là một bệnh lý ngoại khoa phổ biến tại Việt Nam và các nước khu vực Đông Á, Đông Nam Á. Bệnh có đặc tính bệnh học phức tạp, tổn thương thường lan tỏa, đi kèm tình trạng hẹp đường mật và dễ gây các biến chứng nặng như viêm đường mật cấp, áp xe gan, teo nhu mô gan, xơ gan ứ mật hoặc thoái hóa ác tính thành ung thư đường mật. Trong phẫu thuật kinh điển mở ống mật chủ lấy sỏi, việc thám sát gián tiếp hoặc dùng kẹp gắp sỏi mù thường để lại tỉ lệ sót sỏi cao và tiềm ẩn nguy cơ chảy máu đường mật.
Việc ứng dụng ống soi mềm đường mật tán và lấy sỏi qua đường hầm ống Kehr sau mổ là phương pháp điều trị ít xâm lấn, cho phép quan sát trực tiếp lòng đường mật, tán các viên sỏi lớn và giải quyết sỏi sót qua nhiều lần can thiệp. Mặc dù nhiều trung tâm trong nước đã triển khai kỹ thuật này với tỉ lệ sạch sỏi ban đầu từ 81,7% đến 91,1% và tỉ lệ biến chứng thấp (4,5% - 7,4%), phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ theo dõi trong thời gian ngắn, chưa đánh giá đầy đủ kết quả dài hạn về tỉ lệ sỏi tái phát cũng như ảnh hưởng của thương tổn hẹp đường mật sau can thiệp.
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Lê Quan Anh Tuấn với đề tài "Điều trị sỏi đường mật trong gan qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm" (chuyên ngành Ngoại Tiêu hóa, mã số 62720125, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đỗ Đình Công và PGS. Nguyễn Trung Tín) được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Xác định tỉ lệ tiếp cận được đường mật qua đường hầm ống Kehr, tỉ lệ hẹp đường mật, tỉ lệ sạch sỏi, tỉ lệ biến chứng và tử vong liên quan đến thủ thuật.
- Xác định các yếu tố gây sót sỏi.
- Xác định tỉ lệ sỏi tái phát sau 5 năm ở nhóm có hẹp đường mật và nhóm không hẹp đường mật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Bệnh nhân sỏi đường mật trong gan có chỉ định và được thực hiện can thiệp lấy sỏi qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm sau phẫu thuật mở ống mật chủ.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Ghi nhận toàn diện giai đoạn can thiệp thủ thuật và theo dõi dọc sau điều trị với mốc thời gian theo dõi sỏi tái phát lên đến 5 năm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về dịch tễ, cơ chế bệnh sinh, thành phần hóa học, chẩn đoán, phân loại và các phương pháp can thiệp điều trị sỏi đường mật trong gan trên thế giới và tại Việt Nam:
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Dịch tễ và cơ chế bệnh sinh: Xuất độ sỏi trong gan ở các nước phương Tây rất thấp (0,6% - 1,3%), chủ yếu là sỏi cholesterol hoặc sỏi thứ phát từ túi mật rơi xuống ống mật chủ. Ngược lại, tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tỉ lệ mắc sỏi đường mật trong gan cao (Đài Loan 30% với 18,7% có biến chứng, Malaysia 10%, Hàn Quốc 17%, Nhật Bản 0,6% - 1,7% theo Tazuma 2015). Nakayama và cộng sự, Glenn và Moody chỉ ra rằng bên cạnh yếu tố chủng tộc, môi trường sống và điều kiện kinh tế - xã hội (dinh dưỡng nghèo protein/mỡ, nhiễm ký sinh trùng, ứ trệ mật) giữ vai trò then chốt trong quá trình hình thành sỏi sắc tố bilirubinat canxi.
- Lịch sử can thiệp qua đường hầm ống Kehr và nội soi: Kỹ thuật lấy sỏi qua đường hầm Kehr dưới màn huỳnh quang X quang được Mondet khởi xướng năm 1962, sau đó được Mazzariello (1973, báo cáo 220 ca, thành công 92,7%) và Burhenne (1980, báo cáo 661 ca, thành công 95%) chuẩn hóa. Tuy nhiên, phương pháp dưới hướng dẫn X quang đơn thuần bộc lộ hạn chế lớn đối với sỏi trong gan dạng cành cây, sỏi kẹt (Park báo cáo thành công chỉ 67,6%, sạch sỏi 48,6%). Yamakawa (1974–1977) thực hiện 566 lần nội soi ống Kehr bằng ống mềm trên 186 bệnh nhân, phát hiện và làm sạch sỏi cho 76/79 trường hợp sót sỏi. Wang (2019) tổng kết 826 bệnh nhân tại Trung Quốc trong 20 năm, ghi nhận tỉ lệ sạch sỏi 97%, tỉ lệ biến chứng chảy máu 3,1%, viêm đường mật 3,6% và không có tử vong.
- Xử trí hẹp và theo dõi tái phát: Sheen theo dõi 90 bệnh nhân hẹp đường mật được nong và đặt stent 18–20 Fr qua đường hầm Kehr trong ít nhất 3 tháng, ghi nhận tỉ lệ tái phát giảm còn 8% sau 43 tháng theo dõi. Các nghiên cứu lấy sỏi xuyên gan qua da của Cheon (theo dõi 8 năm), Lee (theo dõi 42 tháng) và Lamanna (theo dõi 31 tháng) ghi nhận tỉ lệ tái phát lần lượt là 30,9%, 29,5% và 40%.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
- Thành phần sỏi: Trước 1945, Huard, Autret và Tôn Thất Tùng ghi nhận sỏi mật nhiệt đới chủ yếu là sỏi sắc tố liên quan đến xác và trứng giun đũa. Các công trình của Đỗ Kim Sơn (1988) bằng quang phổ hồng ngoại và Fourier FTIR tại Đại học Limoges (Pháp) trên 86 bệnh nhân cho thấy sỏi sắc tố chiếm từ 66,7% đến 100% tùy vị trí, 15,1% có nhân xác giun. Lê Văn Cường (2004) dùng quang phổ hồng ngoại và tán xạ xác định sỏi sắc tố ở đường mật chính chiếm 79,31%, sỏi hỗn hợp 17,21%, sỏi cholesterol chỉ chiếm 3,45%.
- Nội soi đường mật và lấy sỏi qua Kehr: Đầu thập niên 2000, ống soi mềm bắt đầu được áp dụng rộng rãi. Các báo cáo lấy sỏi qua đường hầm ống Kehr của Trịnh Tấn Lập (76,7%), Phạm Như Hiệp (81,7%), Đặng Tâm (83,6%), Lê Quan Anh Tuấn (85,5%), Nguyễn Hải Đăng (85,7%), Bùi Mạnh Côn (91,1%) đều khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp. Nguyễn Hoàng Bắc (2007) và Trần Đình Thơ ghi nhận tỉ lệ sót sỏi sau mổ mở ống mật chủ có soi đường mật trong mổ vẫn dao động từ 29,1% đến 43,29%, cho thấy sự cần thiết của can thiệp sau mổ qua ống Kehr.
Vị trí của luận án: Luận án của Lê Quan Anh Tuấn định vị là nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, không chỉ đánh giá kết quả điều trị ngắn hạn (sạch sỏi, tai biến, biến chứng) mà còn theo dõi dọc 5 năm nhằm xác định tỉ lệ tái phát sỏi và phân tích vai trò của tổn thương hẹp đường mật đối với kết quả lâu dài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các hệ thống phân loại ứng dụng
Luận án vận dụng các khung phân loại học thuật và hướng dẫn quốc tế:
- Phân loại mức độ nặng theo Hội nghiên cứu sỏi mật Nhật Bản (Nimura, 2001): Phân chia 4 mức độ dựa trên triệu chứng lâm sàng (Độ 1: không triệu chứng; Độ 2: đau bụng; Độ 3: vàng da thoáng qua hoặc viêm đường mật; Độ 4: vàng da liên tục, viêm đường mật hoặc kèm ung thư đường mật).
- Phân loại sỏi đường mật trong gan theo Dong (2008, 2012):
- Loại I (Sỏi khu trú): Ia (khu trú 1 thùy), Ib (khu trú 2 thùy).
- Loại II (Sỏi lan tỏa): IIa (không teo gan, không hẹp đường mật), IIb (teo hạ phân thùy và/hoặc hẹp đường mật), IIc (xơ gan ứ mật và tăng áp lực tĩnh mạch cửa).
- Phân loại theo Tsunoda và Cheon: Đánh giá hình thái phân nhánh đường mật và vị trí định vị sỏi.
- Hướng dẫn Tokyo Guideline 2013 và 2018 (TG13, TG18): Tiêu chuẩn hóa chẩn đoán, phân độ nặng và hướng dẫn dẫn lưu giải áp trong viêm đường mật cấp.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát - can thiệp lâm sàng tiến cứu kết hợp theo dõi dọc thời gian thực.
- Quy trình kỹ thuật can thiệp:
- Ống Kehr được lưu từ 3 đến 5 tuần sau mổ mở ống mật chủ để hình thành đường hầm xơ hóa chắc chắn từ thành bụng vào đường mật.
- Chụp X quang đường mật qua ống Kehr trước thủ thuật để đánh giá số lượng, vị trí sỏi, hình thái dãn và vị trí hẹp đường mật.
- Rút ống Kehr, đưa ống soi mềm Olympus CHF P20 qua đường hầm vào kiểm tra toàn bộ hệ thống đường mật trong và ngoài gan dưới hỗ trợ định vị của máy X quang C-arm.
- Bơm rửa đường mật bằng dung dịch nước muối sinh lý ấm qua kênh thao tác.
- Lấy sỏi trực tiếp bằng rọ bắt sỏi (basket) đối với sỏi nhỏ; sử dụng máy tán sỏi điện thủy lực Calcutript (Karl Storz) tán vỡ sỏi lớn trước khi gắp.
- Xử trí hẹp đường mật bằng ống thông có bóng nong (balloon catheter) hoặc ống nong dần kích thước 16–18 Fr, đặt stent dẫn lưu tránh tái hẹp.
- Thu thập và phân tích số liệu:
- Biến số nghiên cứu: tuổi, giới, tiền sử phẫu thuật mật, triệu chứng nhập viện, phân loại Dong, kích thước và vị trí sỏi, tình trạng hẹp đường mật, số lần thực hiện thủ thuật, lượng nước rửa, tỉ lệ sạch sỏi, tai biến thủ thuật (chảy máu, thủng, sốt, viêm đường mật), thời gian theo dõi và thời điểm tái phát sỏi.
- Kỹ thuật phân tích: Sử dụng các thuật toán thống kê y sinh học; phân tích đường cong sống còn và tỉ lệ tái phát tích lũy theo phương pháp Kaplan-Meier giữa hai nhóm bệnh nhân có hẹp và không có hẹp đường mật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 trình bày hệ thống lý thuyết toàn diện về sỏi đường mật trong gan. Tác giả phân tích đặc điểm giải phẫu, sinh lý bệnh hình thành sỏi sắc tố, vai trò của nhiễm khuẩn và ứ trệ dịch mật, các hệ thống phân loại sỏi và tổng kết các phương pháp điều trị hiện nay (nội soi mật tụy ngược dòng - ERCP, lấy sỏi xuyên gan qua da - PTCS, phẫu thuật mở ống mật chủ có soi đường mật trong mổ, phẫu thuật cắt gan, ghép gan và tạo đường hầm mật - da).
| Hệ thống phân loại |
Tác giả / Năm |
Nội dung phân loại chính |
| Mức độ nặng |
Nimura (2001) |
- Độ 1: Không triệu chứng - Độ 2: Đau bụng - Độ 3: Vàng da thoáng qua hoặc viêm đường mật - Độ 4: Vàng da liên tục, viêm đường mật hoặc kèm ung thư đường mật |
| Phân loại phẫu thuật |
Dong (2008), Feng (2012) |
- Loại I (Khu trú): Ia (1 thùy), Ib (2 thùy) - Loại II (Lan tỏa): IIa (không teo/không hẹp), IIb (teo gan/hẹp đường mật), IIc (xơ gan ứ mật, tăng áp cửa) |
| Phân tích thành phần sỏi |
Đỗ Kim Sơn (1988), Lê Văn Cường (2004) |
- Sỏi sắc tố (bilirubinat canxi) chiếm 79,31% - 100% - Sỏi cholesterol chiếm 3,45% - 12,5% - Sỏi hỗn hợp chiếm 7,5% - 17,21% |
Chương này cũng phân tích các kỹ thuật tán sỏi trong cơ thể: tán sỏi cơ học, tán sỏi laser và tán sỏi điện thủy lực (EHL). EHL được chỉ ra là có hiệu quả kinh tế và thời gian vượt trội đối với sỏi sắc tố dạng khối lớn trong gan tại Việt Nam do tạo sóng xung kích phá vỡ sỏi trên diện rộng.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu, tiêu chuẩn nhận bệnh và tiêu chuẩn loại trừ tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Tác giả chuẩn hóa quy trình thực hiện kỹ thuật:
- Chuẩn bị bệnh nhân, kiểm tra đông máu, kháng sinh dự phòng.
- Đánh giá đường hầm Kehr sau 3-5 tuần, phương pháp vô cảm (gây tê tại chỗ hoặc tiền mê).
- Trang thiết bị can thiệp gồm: Ống soi mềm Olympus CHF P20, nguồn sáng và xử lý hình ảnh, máy tán sỏi điện thủy lực Karl Storz Calcutript, máy C-arm, rọ gắp sỏi, bóng nong đường mật.
- Tiêu chí sạch sỏi: kiểm tra không còn sỏi trên hình ảnh nội soi trực tiếp và chụp X quang đường mật kiểm tra.
- Các tiêu chí theo dõi biến chứng sớm (chảy máu đường mật, viêm đường mật, tổn thương thành mật) và tiêu chuẩn đánh giá tái phát trong thời gian theo dõi 5 năm. Quy trình nghiên cứu tuân thủ các quy chuẩn đạo đức y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu thực chứng thu thập được:
- Đặc điểm chung và lâm sàng: Phân bố bệnh nhân theo độ tuổi, giới tính, vùng miền, nghề nghiệp, tiền sử phẫu thuật đường mật (mổ lần đầu hay mổ tái phát), tình trạng viêm đường mật lúc nhập viện theo phân độ TG18.
- Đặc điểm đường mật và sỏi: Kích thước ống Kehr, thời gian lưu ống Kehr, tỉ lệ phát hiện sỏi và hẹp đường mật trên X quang qua ống Kehr so với hình ảnh nội soi trực tiếp, vị trí phân bố sỏi trong gan (gan trái, gan phải, hai bên) theo phân loại Dong, Tsunoda và Cheon.
- Kết quả can thiệp thủ thuật: Tỉ lệ tiếp cận thành công đường hầm ống Kehr, tính chất dịch mật lần soi đầu, tỉ lệ áp dụng tán sỏi điện thủy lực, các phương pháp nong hẹp đường mật, số lần can thiệp trung bình để làm sạch sỏi.
- Tai biến và biến chứng: Tỉ lệ chảy máu đường mật trong lúc soi, triệu chứng sốt sau thủ thuật, biến chứng viêm đường mật cấp sau soi, tỉ lệ tử vong (0%).
- Kết quả sạch sỏi và theo dõi tái phát: Tỉ lệ làm sạch sỏi hoàn toàn khi kết thúc đợt điều trị. Tỉ lệ tái phát sỏi tích lũy sau 5 năm theo dõi được trình bày chi tiết qua biểu đồ sống còn Kaplan-Meier, so sánh sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhân có hẹp đường mật và nhóm không có hẹp đường mật.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 đối chiếu kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- Dịch tễ học và đặc điểm bệnh học: Lý giải tỉ lệ sỏi sắc tố, sỏi nhiều viên và sỏi dạng cành cây phức tạp tại Việt Nam, sự khác biệt về cơ cấu bệnh so với các nước Âu Mỹ.
- Giá trị của phân loại Dong: Đánh giá tính ứng dụng của phân loại Dong trong tiên lượng khả năng lấy sạch sỏi và dự báo nguy cơ tái phát.
- Hiệu quả của ống soi mềm và EHL: Phân tích ưu thế của việc nội soi trực tiếp qua đường hầm Kehr kết hợp tán sỏi điện thủy lực so với các phương pháp gắp sỏi mù hoặc can thiệp dưới X quang đơn thuần. Số lần thực hiện can thiệp trung bình và lượng dịch rửa được kiểm soát giúp giảm thiểu áp lực đường mật và hạn chế nhiễm trùng huyết.
- Xử trí hẹp đường mật và sỏi tái phát: Bàn luận về vai trò của nong đường mật và lưu stent trong việc giảm tỉ lệ tái phát sỏi lâu dài; so sánh kết quả đường cong Kaplan-Meier 5 năm với các nghiên cứu của Sheen, Cheon, Lee và Wang.
- Hạn chế của nghiên cứu: Phân tích các yếu tố giới hạn về kỹ thuật, cỡ mẫu hoặc các trường hợp mất dấu theo dõi trong thời gian 5 năm.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp về mặt khoa học và lâm sàng:
- Cung cấp dữ liệu thực chứng khẳng định phương pháp lấy sỏi đường mật trong gan qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm kết hợp tán sỏi điện thủy lực là phương thức điều trị an toàn, ít xâm lấn, có tỉ lệ sạch sỏi cao và tỉ lệ biến chứng thấp.
- Xác định vai trò của việc kết hợp C-arm và nội soi trực tiếp giúp kiểm soát toàn diện hệ thống đường mật trong gan, giảm thiểu tỉ lệ sót sỏi.
-
Đóng góp mới về mặt thực tiễn dài hạn:
- Cung cấp dữ liệu theo dõi dọc 5 năm về tỉ lệ tái phát sỏi sau can thiệp qua đường hầm Kehr tại Việt Nam.
- Chứng minh rõ ràng mối liên quan giữa tổn thương hẹp đường mật và nguy cơ tái phát sỏi thông qua phân tích sống còn Kaplan-Meier.
- Khẳng định tầm quan trọng của việc chủ động phát hiện và xử trí triệt để hẹp đường mật (bằng nong bóng hoặc đặt stent) trong quá trình nội soi nhằm cải thiện tiên lượng lâu dài cho bệnh nhân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật chuyên sâu tuyến cuối với trang thiết bị chuyên dụng (hệ thống soi Olympus, máy tán sỏi EHL Karl Storz, máy C-arm), đòi hỏi phẫu thuật viên và nội soi viên có kinh nghiệm, do đó việc áp dụng rộng rãi tại các cơ sở tuyến dưới có thể gặp rào cản về trang thiết bị và kỹ năng thao tác. Việc theo dõi kéo dài 5 năm gặp khó khăn nhất định về quản lý hồ sơ và bệnh nhân chuyển nơi sinh sống.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm; đánh giá so sánh hiệu quả dài hạn giữa các phương pháp xử trí hẹp đường mật (nong bóng đơn thuần so với nong kết hợp lưu stent dài hạn); nghiên cứu kết hợp giữa lấy sỏi qua Kehr với các phẫu thuật tạo hình đường mật hoặc tạo đường hầm mật - da cho các trường hợp sỏi tái phát nhiều lần.
Giá trị tham khảo
- Đối với bác sĩ phẫu thuật Tiêu hóa - Gan Mật Tụy: Là tài liệu chuyên khảo hướng dẫn quy trình kỹ thuật, thời điểm rút ống Kehr (3–5 tuần), kỹ thuật định vị sỏi dưới C-arm, kỹ năng sử dụng máy tán sỏi điện thủy lực và phác đồ xử trí hẹp đường mật qua nội soi.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu can thiệp ngoại khoa kết hợp theo dõi dọc, cách ứng dụng các bảng phân loại quốc tế (Dong, Nimura, TG18) và kỹ thuật phân tích thống kê sống còn Kaplan-Meier trong y học thực chứng.
- Đối với các nhà quản lý y tế và cơ sở khám chữa bệnh: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật chuẩn và đầu tư trang thiết bị (ống soi mềm, máy tán sỏi EHL) cho các bệnh viện tuyến tỉnh nhằm nâng cao chất lượng điều trị sỏi mật, giảm tải cho tuyến trung ương.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao cần phải chờ từ 3 đến 5 tuần sau mổ mới tiến hành nội soi lấy sỏi qua ống Kehr?
Thời gian lưu ống Kehr từ 3 đến 5 tuần là bắt buộc để các tổ chức xơ và mô hạt quanh thân ống Kehr hình thành một đường hầm vững chắc từ thành bụng vào lòng ống mật chủ. Đường hầm này giúp ống soi mềm di chuyển dễ dàng vào đường mật mà không làm rách mô, đồng thời ngăn ngừa tuyệt đối dịch mật nhiễm trùng, máu và nước rửa rò rỉ vào khoang phúc mạc gây viêm phúc mạc mật.
2. Sự khác biệt cơ bản giữa phân loại sỏi trong gan theo Nimura (2001) và theo Dong (2008) là gì?
Phân loại của Nimura (Nhật Bản) chia 4 mức độ dựa thuần túy vào triệu chứng lâm sàng (từ không triệu chứng đến vàng da, viêm đường mật và ung thư), chủ yếu có giá trị đánh giá độ nặng và tiên lượng. Phân loại của Dong (Trung Quốc) chia thành Loại I (khu trú Ia, Ib) và Loại II (lan tỏa IIa, IIb, IIc) dựa trên định khu thùy gan, tình trạng teo nhu mô, hẹp đường mật và xơ gan tăng áp cửa, có giá trị trực tiếp định hướng chiến lược phẫu thuật (cắt gan hay bảo tồn đường mật).
3. Tán sỏi điện thủy lực (EHL) có ưu thế gì so với tán sỏi laser trong điều trị sỏi trong gan nguyên phát tại Việt Nam?
Sỏi đường mật trong gan nguyên phát tại Việt Nam chủ yếu là sỏi sắc tố bilirubinat canxi mềm, tạo thành các khối lớn hoặc đúc khuôn dạng cành cây trong lòng đường mật. Cơ chế của tán sỏi laser tạo các đường cắt khu trú hẹp nên mất nhiều thời gian để phá hủy khối sỏi lớn. EHL tạo sóng xung kích thủy lực làm vỡ sỏi trên diện rộng xung quanh đầu điện cực, giúp phá nát khối sỏi nhanh chóng, tiết kiệm thời gian can thiệp và chi phí điều trị.
4. Yếu tố nào đóng vai trò chính dẫn đến tái phát sỏi trong gan sau khi đã làm sạch sỏi qua ống Kehr?
Tổn thương hẹp đường mật (biliary stricture) là yếu tố nguyên nhân hàng đầu gây sỏi tái phát. Chỗ hẹp làm cản trở lưu thông dịch mật, dẫn đến ứ trệ mật và nhiễm trùng mạn tính bên trên chỗ hẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lắng đọng và kết tủa trở lại của bilirubinat canxi. Phân tích sống còn Kaplan-Meier trong luận án đã chứng minh nhóm có hẹp đường mật có tỉ lệ tái phát sỏi sau 5 năm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không hẹp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Quan Anh Tuấn là công trình nghiên cứu lâm sàng hoàn chỉnh, giải quyết toàn diện vấn đề điều trị sỏi đường mật trong gan bằng ống soi mềm qua đường hầm ống Kehr tại Việt Nam. Công trình đã khẳng định giá trị điều trị của phương pháp với tỉ lệ sạch sỏi cao, mức độ an toàn cao và hạn chế tối đa các biến chứng nặng. Dữ liệu theo dõi dài hạn 5 năm cung cấp bằng chứng thực chứng quan trọng về tỉ lệ tái phát sỏi và khẳng định vai trò quyết định của việc xử trí hẹp đường mật trong việc nâng cao kết quả điều trị lâu dài cho người bệnh.