MỞ ĐẦU Ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng trong nghiên cứu và sử dụng thuốc. Các nghiên cứu từ hợp chất thiên nhiên tạo tiền đề và là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, mĩ phẩm, dược phẩm.Các hợp chất tìm thấy trong thiên nhiên có hoạt tính sinh học tốt có thể được dùng trực tiếp trong y học. Ngày nay, hợp chất thiên nhiên và dẫn xuất của chúng chiếm 50% lượng thuốc điều trị lâm sàng. Việt Nam ta có nguồn hợp chất thiên nhiên vô cùng phong phú đa dạng, phân bố trên toàn đất nước.
Từ nhiều thế kỉ trước, con người đã nghiên cứu sử dụng trực tiếp các cây thuốc, con thuốc từ thiên nhiên để chữa nhiều bệnh rất hiệu quả. Tuy nhiên ngày nay, sự ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, thói quen sinh hoạt xấu đã làm gia tăng ngày càng nhiều loại bệnh nghiêm trọng như: ung thư, tiểu đường, béo phì, tim mạch, tiêu hóa. Vì vậy việc tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính tốt là vô cùng quan trọng. Trong số nguồn thảo dược phong phú chúng tôi đặc biệt chú ý loài Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge) thuộc họ Thùa (Agavaceae).
Loài này thường mọc hoang và được trồng phổ biến tại vùng núi phía Bắc nước ta. Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về loài Tri mẫu đã chứng minh dịch chiết và các hợp chất được phân lập từ các loài thực vật này có khả năng ức chế nhiều dòng tế bào ung thư, có khả năng bảo vệ tế bào và nhiều tác dụng khác. Ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Tri mẫu, việc khai thác và sử dụng thực vật trên chưa được quan tâm đúng mức. Dó đó chúng tôi đề xuất đề tài: „„Phân lập, xác định cấu trúc và đánh giá hoạt tính ức chế tế bào ung thƣ một số hợp chất hóa học từ loài thực vật Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides)” 1 Đề tài này khi hoàn thành sẽ cung cấp các thông tin khoa học giá trị làm cơ sở khoa học quan trọng để sử dụng loài thực vật này làm thuốc chữa bệnh và sàng lọc các hợp chất có hoạt tính tốt để tiến hành nghiên cứu tiếp theo.
Đồng thời góp phần vào đào tạo nguồn nhân lực cho vùng núi phía Bắc và cả nước. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát về loài Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge) 1. Đặc điểm thực vật học 1.
Tên khoa học - Tên khoa học: Anemarrhena asphodeloides Bunge. - Tên Việt Nam: Tri mẫu. - Tên khác: Zhi mu (Trung Quốc), Chimo (Nhật Bản), Ji mo (Hàn Quốc). Đặc điểm thực vật Cây Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides ) là cây thân rễ.
Tri mẫu vốn tên là chi mâu do chi mâu là trứng con kiến, vì lúc mầm cây này mọc lên trông giống trứng con kiến. Sau này đọc lệch thành Tri mẫu (Lợi, 1997)[2]. Thân: Thân rễ mọc ngang ở dưới mặt đất hơi phẳng và tròn, bề mặt trên mọc nhiều rễ nhỏ màu vàng dài và rậm rạp [11].thẳng, hình trụ, cao khoảng 33- 36 cm, mọc thành bụi[1]. Rễ: mọc ngang trên mặt đất, tạo thành vòng hơi phẳng, bề mặt phía trên có những sợi dài màu vàng mọc rậm rạp.
Thân rễ hình khúc dẹt hoặc trụ, hơi cong queo, có khi phân nhánh, dài 3 – 15 cm, đường kính 0,8 – 1,5 cm. Một đầu còn sót lại gốc thân và vết cuống lá màu vàng nhạt. Mặt ngoài có màu vàng nâu đến nâu. Mặt trên của thân rễ có một rãnh lớn và có nhiều đốt vòng xếp sít nhau, trên đốt có nhiều gốc lá còn sót lại màu nâu vàng mọc ra 2 bên, mặt dưới có nếp nhăn và nhiều vết rễ nhỏ hình chấm tròn lồi lõm.
Mặt gẫy màu vàng nhạt. Vị hơi ngọt, đắng, nhai có chất nhớt[1]. Lá: dài từ 15- 70 cm, rộng 3- 6 mm với nhiều gân lá song song và không có gân chính rõ ràng[1]. Hoa: Nhành hoa mọc thẳng đứng, không phân nhánh, trên đó mọc ra lá bắc đuôi nhọn, gai thưa thớt và hẹp.
2-3 hoa mọc thành một cụm, phát triển trên đỉnh và tạo thành một cành, không cuống hoặc rất ngắn khoảng 3 mm. Hoa màu xanh lá cây hoặc màu tím violet, sắp xếp thành hai vòng, thuôn, dài 7- 8 mm[1]. 3 Quả: thuôn dài, sáu cạnh dọc, dài 10-15 mm, nứt dọc trên các khe bụng khi trưởng thành; mỗi quả chứa 1-2 hạt, hạt hình lăng trụ, hai đầu nhọn có màu đen[1]. - Hạt: hình thoi, nhọn ở cả hai đầu, màu đen [11].
Vào tháng 3 - 4 người ta đào lấy thân rễ rửa sạch phơi hay sấy khô[2]. A: Thân rễ B: Cành hoa C: Hoa D: Tràng hoa E: Nhị hoa F: Quả G: Hạt Hình 1. Hình vẽ mô tả loài Tri mẫu Hình 1. Hình ảnh loài Tri mẫu 4 1.
Phân bố - Trên thế giới: Tri mẫu được trồng hoặc mọc hoang trên sườn núi ở Mãn Châu, Mông Cổ và miền Bắc của Trung Quốc. - Ở Việt Nam: Tri mẫu mọc hoang ở miền núi phía Bắc và được trồng nhỏ lẻ ở các tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Kạn, Yên Bái. Công dụng của loài Tri mẫu[1] Tri mẫu có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng tu thận, bổ thủy, tá hỏa, thường được dùng chữa bệnh tiêu khát (đái đường), hạ thủy, ích khí. Hiện nay Tri mẫu dùng làm thuốc chữa ho tiêu đờm, chữa sốt, sốt do viêm phổi.
Một số đơn thuốc kinh nghiệm có Tri mẫu: - Chữa bụng chướng to, rất cứng rắn, chân tay nhỏ, ăn uống không được: Uống thuốc gì cũng không khỏi, sau uống bài ngũ linh tâm gồm các vị Tri mẫu, đan sâm, độc hoạt, hải tảo, qui vũ tiến, tần bông (hai vị sau chưa xác định) thì thấy lợi tiểu tiện, ăn uống được bệnh dần dần khỏi (theo sách thiên kim ngoại đài). - Chữa bệnh viêm phổi: Tri mẫu 5g, tang bạch bì 10g, mạch môn đông 8g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. - Dương vật cường luôn: Tri mẫu, hoàng bá, xa tiền, mộc thông, thiên môn đông, sinh thảo (cam thảo sống) các vị bằng nhau, mỗi vị 4g sắc uống. - Có mang động thai: Tri mẫu 80g, tán nhỏ, viên với mật bằng hạt ngô, mỗi ngày uống 20 viên, chiêu với nước cháo.
- Hắc lào: Tri mẫu mài với dấm bôi lên. Tình hình nghiên cứu về hoạt tính sinh học loài Tri mẫu Như đã trình bày ở trên, trong loài thực vật này thì thành phần hóa học chủ yếu là các saponin, các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của hai loài này cũng định hướng theo tác dụng sinh học của loại hợp chất đó. Dịch chiết tổng số của loài thực vật tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge) chỉ ra khả năng bảo vệ tế bào não và cải thiện trí nhớ trên chuột thực nghiệm với tác nhân gây tổn 5 thương amyloid β-peptide và một số tác nhân khác [10-17]. Đồng thời thể hiện khả năng ức chế các dòng tế bào ung thư HeLa, HepG2, BC, MKN45, và KATO-III với liều lượng IC50 khoảng µM [14-15, 31].
Trong đó, gây được sự quan tâm lớn nhất là hoạt tính của Timosaponin A- III (TA3), đây là một saponin được phân lập từ rễ của cây tri mẫu, có khả năng khả năng ức chế enzym acetyl cholinesterase để cải thiện trí nhớ [13-16]. Cơ chế của quá trình bảo vệ tế bào não của chất này có thể được giải thích bằng sự chống viêm của nó [21]. Nó cũng thể hiện khả năng ức chế sự truyền dẫn tín hiệu NF-kappaB trong tế bào BV-2 và trong tế bào não SK-N-SH trên mô hình chuột thực nghiệm, đây là những phần có ảnh hưởng lớn đến sự mất trí nhớ [21]. Bên cạnh đó chất này cũng thể hiện khả năng ức chế nhiều tế bào ung thư như: ung thư biểu bì (SUNE-1), ung thư gan (HepG2), ung thư biểu mô cổ (HeLa), ung thư vú (MCF-7), đồng thời cũng thể hiện ức chế nhiều dạng tế bào ung thư khác và một số hoạt tính sinh học như hoạt tính chống oxi hóa, kháng viêm, bảo vệ gan,… [12-17].
HOẠT STT TÊN CHẤT ĐẶC ĐIỂM TÁC DỤNG TÍNH Phụ thuộc vào liều lượng. Kết quả thử nghiệm cho thấy trên 2 dòng tế bào ung thư dạ dày MKN45 và Kato-III các caspase 3 Dịch chiết nước tăng lên, còn cytochrome C đã được phóng Ức chế tế thích từ ty thể vào bào tương sau 8 giờ, và 1 bào ung đạt đỉnh điểm lúc 16 giờ [18]. thư Hình thành các không bào bị buộc tự tiêu màng ở cấp siêu cấu trúc trên Tế bào HeLa Timosaponin A-III [50] Tác động trên pha G0/G1 và pha G2/M1 6 của chu kỳ tế bào và kích hoạt quá trình tự hủy trên Tế bào ung thư đại trực tràng ở người. Ức chế sự gắn kết của NF-κB và AP-1 với Pr MMP-9 Mangiferin Như vậy, sự ức chế MMP-9 bởi mangiferin cho ta thông tin dược lý quan trọng trong điều trị các u thần kinh đệm [18].
Sarsasapogenin gây ra quá trình chết ở tế bào ung thư gan HepG2 bằng cách tác động lên pha G(2)/M trên chu kỳ tế bào với giá trị với IC50= 42,4 1.0 M trong 48 giờ [6] Sarsasapogenin Gây ra sự chết của tế bào u xương ác tính. Trong quá trình đó, sự oxy hóa stress là tín hiệu đầu tiên mà có thể kích hoạt các con đường tự hủy hoại của ty lạp thể và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tự hủy của tế bào HepG2 [33]. Kích thích quá trình tự hủy và nhiễu loạn trong màng ty thể được kết hợp với sự rối loạn tỷ lệ Bax/ Bcl-2 làm tăng sự bài tiết của cytochrome C, sau đó kích hoạt phản ứng oxy hóa ở Tế bào ung thư cổ tử cung của người [54]. Trên các đối tượng là chuột có sự sa sút trí Bảo vệ tế Dịch chiết tuệ và tế bào thần kinh tổn thương do chấn 2 bào thần tổng số thương não, dịch chiết nước làm giảm tích kinh lũy bạch cầu trong mô não[53].
7 Với đối tượng là chuột thực nghiệm bị mất trí nhớ, chất này ức chế sự truyền dẫn tín hiệu của NF-κB trong tế bào tiểu thần kinh đệm BV-2 và tế bào não SK-N-SH do cảm Timosaponin A- ứng với TNF-α. III Hơn nữa, Timosaponin A-III có thể bảo vệ tế bào não và cải thiện tình trạng mất trí nhớ bằng cách ức chế enzym acetylcholinesterase[38]. Khả năng ức chế Aβ42 trên tế bào N2A- APPswe của hợp chất timosaponin A - III: IC50= 2.2, Kết quả trên cho thấy khả năng ức chế Aβ42 trên tế bào N2A- APPswe của timosaponin A - III tương đối tốt51].