Tổng quan luận án

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2020), ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên phạm vi toàn cầu với tỷ lệ mắc mới không ngừng gia tăng. Trong hơn nửa thế kỷ qua, các hợp chất tự nhiên có nguồn gốc từ sinh vật đã đóng góp quan trọng vào kho tàng dược phẩm kháng ung thư; ước tính từ năm 1981 đến năm 2019, có khoảng 25% các loại thuốc điều trị ung thư mới được cấp phép bắt nguồn từ các sản phẩm tự nhiên. Chi nấm Cordyceps (họ Clavicipitaceae) bao gồm hơn 750 loài ký sinh trên côn trùng và động vật chân khớp, từ lâu đã được ghi nhận chứa hơn 200 hợp chất có hoạt tính sinh học thuộc các nhóm nucleosid, sterol, peptid mạch vòng, flavonoid, polysaccharid, alkaloid và polyphenol. Tuy nhiên, phần lớn các ứng dụng thực tế hiện nay chỉ tập trung vào một số ít loài như Cordyceps sinensis, Cordyceps militaris, Isaria cicadaeCordyceps takaomontana.

Tại Việt Nam, nguồn tài nguyên nấm ký sinh côn trùng phân bố tự nhiên tương đối đa dạng. Mặc dù vậy, đa số các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ khảo sát hoạt tính của các dịch chiết thô, phụ thuộc vào nguồn giống ngoại nhập và còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về quy trình nuôi trồng nhân tạo, tách chiết phân đoạn, cô lập các hợp chất tinh khiết cũng như làm sáng tỏ cơ chế kháng phân bào của từng hoạt chất đơn lẻ trên các dòng tế bào ung thư người. Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Chí Dũng được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này đối với hai chủng nấm bản địa được thu thập tại Việt Nam là Cordyceps neovolkiana DL0004 và Isaria cicadae F0004.

Mục tiêu và các nội dung nghiên cứu chính của luận án bao gồm:

  1. Xây dựng quy trình nuôi cấy nhân tạo thu nhận sinh khối hệ sợi và quả thể của hai chủng nấm Cordyceps neovolkiana DL0004 và Isaria cicadae F0004.
  2. Thu nhận các phân đoạn cao chiết từ sinh khối và quả thể bằng phương pháp chiết ngấm kiệt, tủa cồn và chiết lỏng - lỏng phân bố theo dãy dung môi có độ phân cực tăng dần.
  3. Sàng lọc, đánh giá hoạt tính gây độc tế bào in vitro của các cao chiết trên hai dòng tế bào ung thư người gồm tế bào ung thư vú MCF-7 và tế bào ung thư bạch cầu dòng lympho T Jurkat T, từ đó xác định các cao phân đoạn có hoạt tính tiềm năng nhất.
  4. Nghiên cứu cơ chế kháng phân bào và khả năng cảm ứng chết tế bào theo chương trình (apoptosis) của các cao chiết tiềm năng thông qua khảo sát hình thái tế bào, phân tích chu kỳ tế bào và định lượng tỷ lệ apoptosis.
  5. Phân chất, tinh sạch và định danh cấu trúc hóa học của các hợp chất tinh khiết từ các cao phân đoạn tiềm năng bằng phương pháp sắc ký và quang phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR); đánh giá hoạt tính gây độc tế bào và cơ chế cảm ứng apoptosis của hợp chất đơn lập (điển hình là ergone).

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm:

  • Chủng nấm Cordyceps neovolkiana DL0004 (thể vô tính Hirsutella neovolkiana) thu thập tại vùng núi Langbiang, tỉnh Lâm Đồng, do TS. Trương Bình Nguyên (Trường Đại học Đà Lạt) phân lập, định danh và cung cấp.
  • Chủng nấm Isaria cicadae F0004 (tên đồng nghĩa Cordyceps cicadae) thu thập tại thị trấn EaKnop, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, do Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng sinh học cung cấp.
  • Hai dòng tế bào ung thư người: MCF-7 (Michigan Cancer Foundation-7, ung thư biểu mô tuyến vú) và Jurkat T (bạch cầu cấp dòng lympho T).

Phạm vi nghiên cứu: Quá trình nhân nuôi nấm, chiết xuất, thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro và phân tích hóa học được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Sinh hóa và Phòng Phân tích Trung tâm, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, phối hợp cùng Viện Sinh học nhiệt đới và Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Luận án được hoàn thành và bảo vệ năm 2022.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa lịch sử phân loại, giá trị kinh tế, công nghệ nuôi trồng và các công bố khoa học về thành phần hóa thực vật cũng như hoạt tính dược lý của chi Cordyceps và chi Isaria:

  • Về mặt phân loại học:

    • Theo Holiday (2008), Cordyceps thuộc ngành Ascomycota, lớp Ascomycetes, bộ Hypocreales, họ Clavicipitaceae.
    • Năm 2007, Sung và cộng sự xếp chi Isaria (dạng vô tính của Cordyceps) thuộc họ Cordycipitaceae. Đến năm 2010, nghiên cứu hợp tác quốc tế giữa các nhà nấm học Mỹ, Thái Lan và Hàn Quốc dựa trên phân tích phát sinh loài phân tử đã tái cấu trúc nhóm nấm này thành 3 họ riêng biệt: Clavicipitaceae (chứa các chi Metacordyceps, Hypocrella, Regiocrella, Torrubiella), Cordycipitaceae (chứa chi Cordyceps, Isaria), và Ophiocordycipitaceae (chứa chi Ophiocordyceps, Elaphocordyceps).
    • Đối với các chủng nghiên cứu: Cordyceps neovolkiana được Kobayasi phân loại năm 1982 thuộc họ Clavicipitaceae, có thể vô tính là Hirsutella neovolkiana. Chủng tại Việt Nam được định danh bằng giải trình tự vùng gen ITS1-5.8S-ITS2. Chủng Isaria cicadae thuộc họ Cordycipitaceae, là loài nấm dược liệu cổ truyền phương Đông.
  • Về tình hình nuôi cấy nhân tạo:

    • Nuôi cấy C. sinensis tự nhiên gặp trở ngại do sinh thái đặc thù trên dãy Himalaya ở độ cao trên 3.000 m. Cao và cộng sự (2015) lần đầu công bố nuôi cấy thành công quả thể C. sinensis trên môi trường bán rắn nhân tạo; trung tâm Ligno Biotech Sdn (2019) tiếp tục phát triển công nghệ này. Tuy nhiên, việc sản xuất sinh khối hệ sợi trong môi trường lỏng vẫn là xu hướng chủ đạo do giá thành thấp và chu kỳ ngắn.
    • Tại Việt Nam, Lê Tấn Hưng và cộng sự (2010) đã khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ lên quá trình sinh tổng hợp cordycepin ở 15 chủng C. militaris; Phạm Quang Thu (2009) nghiên cứu quy trình nuôi trồng quả thể C. militaris; Trương Bình Nguyên và Đinh Minh Hiệp (2015) công bố nuôi cấy thành công sinh khối hệ sợi C. sinensis.
  • Về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học:

    • Các hợp chất chính được ghi nhận trong Cordyceps gồm nucleosid (adenosin, cordycepin tức 3'-deoxyadenosin, hydroxyethyl adenosin, guanosin, uridin, forodesin); sterol (ergosterol, ergosterol peroxid, H1-A, β-sitosterol, daucosterol, campesterol); peptid và cyclodipeptid (cordycedipeptid A, cordymin, myriocin, cyclosporin); polysaccharid dạng phân đoạn ngoại bào (EPS, EPSF) và nội bào (IPS, Poly) với cấu trúc phân nhánh β-D-glucan phức tạp; dẫn xuất alkaloid, chất chống oxy hóa (hercynin, ergothionein, fumimycin, oosporein, stipitatonic acid).
    • Zhu và cộng sự (2020) chứng minh polysaccharid từ Cordyceps cicadae kích hoạt tăng biểu hiện gen catalase (CAT), glutathione peroxidase (GSH-Px), SOD1, MTH và ức chế malondialdehyde (MDA) ở Drosophila melanogaster. Ren và cộng sự (2014) xác nhận hoạt tính dọn gốc tự do DPPH, hydroxyl và superoxid của polysaccharid từ Paecilomyces cicadae.
    • Sangeetha (2017) đã phân tích phổ 1H-NMR chứng minh sự hiện diện của cordycepin trong dịch nuôi cấy Cordyceps neovolkiana.
  • Vị trí của luận án: Trước thời điểm nghiên cứu, các dẫn liệu khoa học về đặc tính kháng phân bào, quy trình chiết tách phân đoạn, tinh sạch hợp chất đơn lẻ và kiểm chứng cơ chế gây chết tế bào apoptosis của C. neovolkianaI. cicadae nhân nuôi tại Việt Nam còn rất hạn chế. Luận án định vị là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh từ khâu công nghệ sinh học thực nghiệm (nuôi cấy) đến hóa học hợp chất thiên nhiên (chiết tách, NMR) và dược lý tế bào học (gây độc, flow cytometry, apoptosis).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết phân tích

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về con đường gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis) bao gồm con đường nội sinh liên quan đến ty thể (sự thay đổi tính thấm màng ty thể, giải phóng cytochrome c, kích hoạt caspase-9, caspase-3, phân cắt protein PARP và điều hòa tỷ lệ Bax/Bcl-2) và con đường ngoại sinh thông qua thụ thể màng tế bào (Fas/FasL, caspase-8). Đánh giá sự biến đổi pha của chu kỳ tế bào (pha subG1, G0/G1, S, G2/M) làm cơ sở xác định khả năng ức chế phân bào. Cấu trúc hóa học của các hợp chất tinh sạch được xác lập dựa trên lý thuyết phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều và một chiều (1H-NMR, 13C-NMR, HSQC, HMBC).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

1. Nuôi cấy nhân tạo sinh khối và quả thể

  • Nhân giống: Giống cấp 1 nuôi trên môi trường thạch PGA (Potato Glucose Agar) ở 20 ± 2°C trong 15 ngày. Giống cấp 2 nuôi trên môi trường dịch thể PG (Potato Glucose) trong bình tam giác ở 20 ± 2°C trong 7 ngày.
  • Nuôi sinh khối lỏng: Môi trường gồm dịch chiết khoai tây (200 g/L), saccharose (50 g/L), peptone (6 g/L), cao nấm men (4 g/L), KH2PO4 (0,5 g/L), MgSO4 (0,2 g/L), nước cất vừa đủ 1 L. Thời gian nuôi cấy thu sinh khối hệ sợi là 40 ngày.
  • Nuôi quả thể bán rắn: Cơ chất gồm gạo (28,5 g/hộp), kê (9,5 g/hộp), nhộng tằm (2 g/hộp), dung dịch khoáng bổ sung glucose (40 g/L), peptone (5 g/L), KH2PO4 (1,5 g/L), MgSO4 (1,5 g/L). Ủ tối 15 ngày để phát triển hệ sợi, sau đó chuyển sang điều kiện chiếu sáng kích thích hình thành quả thể, thu hoạch sau 45 ngày.

2. Quy trình thu nhận cao chiết và phân đoạn

  • Chiết ngấm kiệt: Bột sinh khối/quả thể khô ngâm chiết kiệt với ethanol 96% theo tỷ lệ 1:10 (khối lượng/thể tích). Dịch chiết được cô quay đuổi dung môi dưới 50°C để thu cao tổng ethanol (cao Et).
  • Thu nhận cao polysaccharid: Bã nấm sau khi chiết cồn được chiết nước nóng (60–70°C, tỷ lệ 1:1) trong 2 giờ, cô đặc dịch và tủa bằng ethanol 96% lạnh (tỷ lệ 1 dịch : 4 cồn) ở 4°C trong 24 giờ để thu cao Poly. Dịch môi trường nuôi cấy lỏng được cô đặc và tủa cồn tương tự để thu cao exopolysaccharid (EPS).
  • Chiết lỏng - lỏng phân đoạn: Cao tổng ethanol được phân tán trong nước cất rồi chiết phân bố lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần gồm Petroleum Ether (PE), Ethyl Acetate (EA), n-Butanol (Bu), và phần dung dịch còn lại là phân đoạn nước (W).
Phân đoạn cao chiết Ký hiệu Dung môi chiết xuất / Phân tách
Cao tổng ethanol Et Ethanol 96% (ngấm kiệt)
Cao phân đoạn Petroleum Ether PE Petroleum ether (chiết lỏng - lỏng)
Cao phân đoạn Ethyl Acetate EA Ethyl acetate (chiết lỏng - lỏng)
Cao phân đoạn n-Butanol Bu n-Butanol (chiết lỏng - lỏng)
Cao phân đoạn Nước W Nước cất phân đoạn cuối
Cao Polysaccharid nội bào Poly Nước nóng (60–70°C) + Tủa cồn 96% lạnh
Cao Exopolysaccharid EPS Dịch nuôi cấy + Tủa cồn 96% lạnh

3. Phân chất, sắc ký và xác định cấu trúc hóa học

  • Sắc ký bản mỏng (TLC): Thực hiện trên bản nhôm silica gel Kieselgel 60 F254 (độ dày 175–225 µm). Phát hiện vết dưới đèn UV ở bước sóng 254 nm và phun thuốc thử hiện màu vanillin/H2SO4, gia nhiệt ở 105°C. Hệ dung môi được lựa chọn khi các vết tách rời rõ rệt và đạt chỉ số Rf trong khoảng 0,3–0,6.
  • Sắc ký cột hấp phụ: Sử dụng cột thủy tinh nhồi pha tĩnh Silica gel 230–400 mesh (kích thước hạt 37–63 µm), tỷ lệ chất hấp phụ gấp 25–50 lần lượng mẫu. Giải ly bằng gradient dung môi có độ phân cực tăng dần.
  • Quang phổ NMR: Ghi phổ 1H-NMR (tần số 500 MHz) và 13C-NMR (tần số 125 MHz) trên thiết bị Bruker Avance tại Phòng Phân tích Trung tâm, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM. Mẫu hòa tan trong dung môi deuterated độ tinh khiết 99,5%. Xử lý và phân tích dữ liệu phổ bằng phần mềm MestReNova 11.0.

4. Thử nghiệm hoạt tính sinh học trên tế bào ung thư

  • Dòng tế bào và môi trường nuôi cấy: Tế bào MCF-7 và Jurkat T nuôi cấy trong môi trường E'MEM bổ sung 10% FBS, L-glutamin (2 mM), NaHCO3 (0,225%), HEPES (20 mM), amphotericin-B (0,025 µg/mL), penicillin G (100 UI/mL), streptomycin (100 µg/mL), ủ ở 37°C, 5% CO2.
  • Khảo sát độc tính tế bào: Đánh giá tỷ lệ ức chế sinh trưởng và xác định giá trị IC50 (µg/mL) của các mẫu cao chiết và hợp chất tinh khiết ở nồng độ khảo sát (như 100 µg/mL).
  • Khảo sát hình thái tế bào chết: Nhuộm huỳnh quang kép Acridine Orange / Ethidium Bromide (AO/EB), quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang để nhận diện tế bào sống (xanh lục đồng nhất), tế bào apoptosis sớm (nhân co cụm, màu xanh lục sáng), apoptosis muộn (nhân màu cam/đỏ co cụm) và hoại tử (màu đỏ đồng nhất).
  • Phân tích chu kỳ tế bào: Nhuộm tế bào bằng Propidium Iodide (PI) sau khi cố định bằng ethanol 70%, đo hàm lượng DNA bằng thiết bị BD Accuri C6 Plus flow cytometer để xác định tỷ lệ tế bào ở các pha subG1, G0/G1, S và G2/M.
  • Định lượng apoptosis: Nhuộm tế bào bằng bộ kít FITC Annexin V / PI (BD Pharmingen) và phân tích trên flow cytometer để xác định chính xác tỷ lệ tế bào sống (Annexin V-/PI-), apoptosis sớm (Annexin V+/PI-), apoptosis muộn (Annexin V+/PI+) và hoại tử (Annexin V-/PI+).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về nấm Cordyceps

Chương 1 tổng hợp có hệ thống các tài liệu trong và ngoài nước về:

  • Vị trí phân loại của chi Cordyceps và chi Isaria, lịch sử tái sắp xếp hệ thống phát sinh loài nấm ký sinh côn trùng từ năm 1982 (Kobayasi), 2007 (Sung), 2008 (Holiday) đến năm 2010.
  • Đặc điểm sinh thái, hình thái học của loài Cordyceps neovolkiana tại Lâm Đồng và Isaria cicadae tại Đắk Lắk.
  • Giá trị kinh tế và thị trường thương mại toàn cầu của nấm Đông trùng hạ thảo (dẫn liệu tăng trưởng quy mô thị trường dự báo đạt 1.167,50 triệu USD vào năm 2027 theo Data Bridge Market Research).
  • Cơ sở lý thuyết và các tiến bộ kỹ thuật trong nuôi trồng nhân tạo sinh khối dạng sợi trong môi trường lỏng và tạo quả thể trên môi trường cơ chất bán rắn.
  • Thành phần hóa học chi tiết: 18 loại acid amin thiết yếu, các nucleosid tự do đặc trưng, các nhóm sterol màng tế bào, peptid vòng và heteropolysaccharid.
  • Cơ chế tác động kháng khối u: thông qua con đường hoạt hóa miễn dịch (tăng sinh tế bào NK, đại thực bào, kích thích cytokin IFN-γ, TNF-α, IL-1, IL-2) và con đường trực tiếp kích hoạt apoptosis nội sinh/ngoại sinh (hoạt hóa caspase-3, 7, 8, 9; điều hòa p53, p21, Bcl-2, Bax, Fas; ức chế Akt, Wnt, MMP2, bFGF và telomerase/hTERT).

Chương 2. Vật liệu - Phương pháp

Trình bày chi tiết các đối tượng sinh học, thiết bị, hóa chất và quy trình thực nghiệm:

  • Nguồn gốc hai chủng nấm C. neovolkiana DL0004 và I. cicadae F0004.
  • Quy trình chuẩn bị môi trường PGA, PG, môi trường lỏng sản xuất sinh khối và môi trường bán rắn sản xuất quả thể.
  • Phương pháp luận chiết xuất: công thức tính toán hiệu suất chiết cao tổng, hiệu suất tủa cao polysaccharid (Poly, EPS) và hiệu suất chiết phân đoạn lỏng - lỏng có hiệu chỉnh theo độ ẩm thực tế của mẫu và dung môi.
  • Các thông số kỹ thuật vận hành sắc ký cột hấp phụ pha thuận, sắc ký lớp mỏng TLC và đo phổ NMR (1H 500 MHz, 13C 125 MHz).
  • Quy trình chuẩn thử nghiệm in vitro trên hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T: phương pháp nhuộm huỳnh quang AO/EB, kỹ thuật cố định và nhuộm PI phân tích chu kỳ tế bào, quy trình nhuộm Annexin V/PI trên hệ thống BD Accuri C6 Plus flow cytometer.

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu:

1. Hiệu suất thu hồi các phân đoạn cao chiết

Thực nghiệm chiết xuất từ sinh khối và quả thể của hai chủng nấm C. neovolkiana DL0004 và I. cicadae F0004 ghi nhận hiệu suất chiết cao tổng và các cao phân đoạn phân bố rõ rệt tùy theo bộ phận nấm (sinh khối hay quả thể) và chủng nấm (trình bày tại Bảng 3.1 của luận án).

2. Sàng lọc hoạt tính gây độc tế bào của các cao chiết

Đánh giá tỷ lệ ức chế sinh trưởng và xác định giá trị IC50 (µg/mL) trên hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T (Bảng 3.2 của luận án):

  • Đối với C. neovolkiana DL0004: Cao phân đoạn Petroleum Ether (PE) từ sinh khối hệ sợi thể hiện hoạt tính gây độc tế bào mạnh nhất trên cả hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T.
  • Đối với I. cicadae F0004: Cao phân đoạn Ethyl Acetate (EA) từ quả thể thể hiện hoạt tính gây độc tế bào vượt trội so với các phân đoạn khác trên cả hai dòng tế bào thử nghiệm.
  • Từ kết quả sàng lọc độc tính tế bào, hai phân đoạn tiềm năng nhất được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu cơ chế sâu hơn và cô lập hoạt chất là: cao PE sinh khối C. neovolkiana DL0004 và cao EA quả thể I. cicadae F0004.

3. Cơ chế cảm ứng apoptosis của các cao chiết tiềm năng

  • Hình thái tế bào nhuộm AO/EB: Tế bào MCF-7 và Jurkat T sau khi xử lý với cao PE sinh khối C. neovolkiana DL0004 hoặc cao EA quả thể I. cicadae F0004 xuất hiện các đặc điểm hình thái đặc trưng của apoptosis: nhân tế bào bị co đặc, chất nhiễm sắc kết tụ, hình thành thể apoptosis phát huỳnh quang màu cam và đỏ cam, màng tế bào tạo bọng.
  • Phân tích chu kỳ tế bào: Kết quả flow cytometry cho thấy các cao chiết tiềm năng gây tích lũy tế bào ở pha subG1 (pha đại diện cho các mảnh vỡ DNA của tế bào chết theo apoptosis) và làm biến đổi tỷ lệ phân bố tế bào tại các pha G0/G1, S hoặc G2/M tùy thuộc vào dòng tế bào ung thư và loại cao chiết.
  • Định lượng apoptosis qua nhuộm Annexin V/PI: Tỷ lệ tế bào ở giai đoạn apoptosis sớm (Annexin V+/PI-) và apoptosis muộn (Annexin V+/PI+) tăng lên rõ rệt theo thời gian và nồng độ xử lý cao chiết so với nhóm chứng đối chứng không xử lý.

4. Phân chất, tinh sạch và xác định cấu trúc hoạt chất

  • Tiến hành sắc ký cột hấp phụ lặp lại trên cao PE của sinh khối C. neovolkiana DL0004 và cao EA của quả thể I. cicadae F0004, kết hợp kiểm tra độ tinh sạch bằng TLC.
  • Cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được xác định chính xác thông qua phân tích dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR trên phần mềm MestReNova 11.0. Trong số các hợp chất cô lập được, hợp chất ergone (một dẫn xuất sterol) được tinh sạch từ cao PE của sinh khối C. neovolkiana DL0004.
  • Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất cô lập tại nồng độ 100 µg/mL (Bảng 3.3 của luận án) ghi nhận ergone thể hiện hoạt tính ức chế sinh trưởng mạnh trên cả tế bào MCF-7 và Jurkat T.
  • Khảo sát cơ chế của ergone: Hợp chất ergone gây biến đổi hình thái rõ rệt (nhuộm AO/EB), gây bắt giữ chu kỳ tế bào và làm gia tăng đáng kể tỷ lệ tế bào đi vào con đường apoptosis (Annexin V+/PI+) trên cả hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  1. Cung cấp dữ liệu thực nghiệm toàn diện về quy trình nhân nuôi nhân tạo thành công cả sinh khối hệ sợi (môi trường lỏng) và quả thể (môi trường bán rắn) của hai chủng nấm dược liệu bản địa Việt Nam: Cordyceps neovolkiana DL0004 và Isaria cicadae F0004.
  2. Thiết lập quy trình chiết xuất phân đoạn định hướng hoạt tính sinh học, chứng minh và so sánh định lượng giá trị IC50 gây độc tế bào của từng phân đoạn dịch chiết (Et, PE, EA, Bu, W, Poly, EPS) trên hai dòng tế bào ung thư người MCF-7 và Jurkat T.
  3. Làm sáng tỏ cơ chế kháng phân bào của cao PE sinh khối C. neovolkiana DL0004 và cao EA quả thể I. cicadae F0004: ức chế tế bào ung thư thông qua cơ chế kích nổ quá trình apoptosis (chứng minh qua hình thái AO/EB, tăng tỷ lệ tế bào pha subG1 trên chu kỳ tế bào và định lượng tín hiệu màng qua Annexin V/PI).
  4. Cô lập, tinh sạch và định danh cấu trúc thành công hợp chất ergone từ phân đoạn cao PE sinh khối C. neovolkiana DL0004; đồng thời chứng minh hoạt tính gây độc tế bào và khả năng cảm ứng apoptosis trực tiếp của hợp chất này trên hai dòng tế bào MCF-7 và Jurkat T.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Mở ra khả năng chủ động nguồn nguyên liệu sinh khối và quả thể nấm dược liệu chất lượng cao từ các chủng phân lập bản địa tại Việt Nam (C. neovolkiana ở Lâm Đồng và I. cicadae ở Đắk Lắk), giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn giống và sản phẩm nhập khẩu.
  2. Cung cấp cơ sở khoa học định lượng (chỉ số IC50, tỷ lệ phân đoạn, thông số phổ NMR) cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc phát triển các chế phẩm hỗ trợ điều trị ung thư từ nguồn nấm dược liệu nhân nuôi.

Kiến nghị của luận án

  • Tiếp tục nghiên cứu tối ưu hóa quy trình nuôi cấy quy mô bán công nghiệp nhằm nâng cao hiệu suất sinh khối và hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học.
  • Mở rộng khảo sát hoạt tính sinh học và cơ chế phân tử chi tiết (đo mức độ biểu hiện gen/protein của các caspase, Bax, Bcl-2, PARP bằng Western Blot hoặc Real-time PCR) của các phân đoạn hoạt chất khác thu nhận từ hai chủng nấm trên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thử nghiệm độc tính tế bào và cảm ứng apoptosis trong khuôn khổ luận án được thực hiện hoàn toàn trên mô hình in vitro đối với hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T; chưa tiến hành đánh giá in vivo trên mô hình động vật thực nghiệm mang khối u ghép để khảo sát dược động học, độ an toàn và độc tính toàn thân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát thử nghiệm tiền lâm sàng in vivo hoạt tính ức chế sự phát triển khối u của cao PE sinh khối C. neovolkiana, cao EA quả thể I. cicadae và hợp chất ergone trên chuột mang khối u.
    • Phân tích sâu hơn các con đường tín hiệu nội bào liên quan đến apoptosis ở mức độ biểu hiện protein và phiên mã gen.
    • Tiếp tục sàng lọc và cô lập thêm các hợp chất thứ cấp khác trong các phân đoạn dịch chiết còn lại của Cordyceps neovolkianaIsaria cicadae.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công nghệ sinh học, Hóa hợp chất thiên nhiên, Dược học: Tham khảo quy trình chuẩn về nuôi cấy nhân tạo nấm ký sinh côn trùng, quy trình chiết xuất phân đoạn lỏng - lỏng, kỹ thuật sắc ký cột, phân tích phổ NMR (1H-NMR, 13C-NMR) và các phương pháp đánh giá hoạt tính tế bào in vitro (AO/EB, Flow cytometry chu kỳ tế bào, Annexin V/PI).
  • Các nhà nghiên cứu và giảng viên tại các viện, trường đại học: Sử dụng các dẫn liệu thực nghiệm về nấm Cordyceps neovolkianaIsaria cicadae phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ tế bào và hóa sinh dược thảo.
  • Các doanh nghiệp sản xuất nấm dược liệu và công ty dược phẩm: Ứng dụng công thức môi trường nuôi cấy nhân tạo lỏng và bán rắn để phát triển vùng nguyên liệu sinh khối và quả thể nấm dược liệu bản địa tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Hai chủng nấm được sử dụng trong luận án có nguồn gốc thu thập từ đâu tại Việt Nam?

Chủng Cordyceps neovolkiana DL0004 được thu thập và phân lập từ vùng núi Langbiang, tỉnh Lâm Đồng (do TS. Trương Bình Nguyên, Trường Đại học Đà Lạt định danh và cung cấp). Chủng Isaria cicadae F0004 được thu thập tại thị trấn EaKnop, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk (do Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng sinh học cung cấp).

2. Các phân đoạn cao chiết nào thể hiện hoạt tính gây độc tế bào tiềm năng nhất?

Kết quả sàng lọc in vitro trên hai dòng tế bào ung thư MCF-7 và Jurkat T xác định: phân đoạn cao Petroleum Ether (PE) từ sinh khối hệ sợi Cordyceps neovolkiana DL0004 và phân đoạn cao Ethyl Acetate (EA) từ quả thể Isaria cicadae F0004 là hai phân đoạn có hoạt tính gây độc tế bào cao nhất.

3. Luận án đã sử dụng những phương pháp nào để chứng minh cơ chế cảm ứng apoptosis của các cao chiết và hoạt chất?

Luận án đã kết hợp ba phương pháp thực nghiệm tế bào học độc lập:

  • Phương pháp nhuộm huỳnh quang kép Acridine Orange / Ethidium Bromide (AO/EB) để nhận diện sự co cụm chất nhiễm sắc, phân mảnh nhân và tạo bọng màng.
  • Phương pháp đo hàm lượng DNA bằng nhuộm Propidium Iodide (PI) trên máy flow cytometer để phân tích sự tích lũy tế bào ở pha subG1 của chu kỳ tế bào.
  • Phương pháp nhuộm kép FITC Annexin V / Propidium Iodide (PI) trên hệ thống BD Accuri C6 Plus flow cytometer để định lượng chính xác tỷ lệ tế bào đi vào giai đoạn apoptosis sớm và apoptosis muộn.

4. Hợp chất tinh khiết nào đã được cô lập và định danh từ cao PE của sinh khối Cordyceps neovolkiana DL0004?

Luận án đã cô lập, tinh sạch và xác định cấu trúc thành công hợp chất ergone (một dẫn xuất sterol) bằng phương pháp sắc ký cột và quang phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR (500 MHz), 13C-NMR (125 MHz) sử dụng phần mềm MestReNova 11.0; đồng thời chứng minh hoạt tính gây độc và khả năng cảm ứng apoptosis của ergone trên tế bào MCF-7 và Jurkat T.

5. Thành phần môi trường nuôi cấy sinh khối lỏng và quả thể bán rắn được tác giả thiết lập như thế nào?

  • Môi trường lỏng nuôi sinh khối (thời gian 40 ngày): dịch nấu khoai tây (200 g/L), saccharose (50 g/L), peptone (6 g/L), cao nấm men (4 g/L), KH2PO4 (0,5 g/L), MgSO4 (0,2 g/L).
  • Môi trường bán rắn nuôi quả thể (thời gian 45 ngày): gạo (28,5 g/hộp), kê (9,5 g/hộp), nhộng tằm (2 g/hộp), dung dịch khoáng bổ sung glucose (40 g/L), peptone (5 g/L), KH2PO4 (1,5 g/L), MgSO4 (1,5 g/L).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Chí Dũng đã thực hiện thành công việc xây dựng quy trình nuôi cấy nhân tạo sinh khối và quả thể của hai chủng nấm dược liệu bản địa Việt Nam là Cordyceps neovolkiana DL0004 và Isaria cicadae F0004. Công trình đã xác lập quy trình chiết xuất phân đoạn, định lượng hiệu suất và chứng minh hoạt tính gây độc tế bào chọn lọc của phân đoạn cao PE sinh khối C. neovolkiana và cao EA quả thể I. cicadae trên hai dòng tế bào ung thư người MCF-7 và Jurkat T thông qua con đường cảm ứng apoptosis. Đồng thời, nghiên cứu đã cô lập, định danh cấu trúc thành công hợp chất ergone và khẳng định vai trò ức chế phân bào của hợp chất này, cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho hướng phát triển dược liệu kháng ung thư từ nguồn nấm ký sinh côn trùng tại Việt Nam.