Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của lá cây giá excoecaria agallocha l và cây đơn lá đỏ excoecaria cochinchinensis lour

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của lá cây giá Excoecaria agallocha L và cây đơn lá đỏ Excoecaria cochinchinensis Lour.

Chuyên ngành

Hóa hữu cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

197
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Giới thiệu về chi Giá - Excoecaria

1.2. Đặc điểm thực vật của chi Giá - Excoecaria

1.3. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Excoecaria

1.4. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của chi Giá - Excoecaria

1.5. Giới thiệu về các cây Giá (Excoecaria agallocha L.)

1.6. Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học về cây E. cochinchinensis ở Việt Nam

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp ngâm chiết

2.2.2. Phương pháp phân lập các hợp chất

2.2.3. Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp chất

2.2.4. Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học

3. CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

3.1. Phân lập các hợp chất

3.1.1. Phân lập các hợp chất từ cây Giá

3.1.2. Phân lập các hợp chất từ cây Đơn lá đỏ

3.2. Thông số vật lý và các dữ kiện phổ của các hợp chất đã phân lập

3.3. Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học

3.3.1. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư của loài Giá

3.3.2. Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định (VSVKĐ)

3.3.3. Kết quả thử hoạt tính kháng viêm của loài Đơn lá đỏ

4. CHƯƠNG IV: THẢO LUẬN KẾT QUẢ

4.1. Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được từ cây Giá

4.1.1. Hợp chất excoecarin L (EA-1, chất mới)

4.1.2. Hợp chất excoecarin O (EA-2, chất mới)

4.1.3. Hợp chất aquillochin (EA-3)

4.1.4. Hợp chất blumenol A (EA-6)

4.1.5. Hợp chất blumenol B (EA-7)

4.1.6. Hợp chất kaempferol (EA-8)

4.1.7. Hợp chất methyl gallate (EA-9)

4.2. Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được từ cây Đơn lá đỏ

4.2.1. Hợp chất 6α,7α-epoxy-4β,5β,9α,13α-tetrahydroxy-rhamnofola-1,15-dien-3-one 20-O-β-D-glucopyranoside (EC-1, chất mới)

4.2.2. Hợp chất venenatin (EC-2)

4.2.3. Hợp chất glochionionol A (EC-3)

4.2.4. Hợp chất isofraxoside (EC-5)

4.2.5. Hợp chất pinoresinol-4'-O-β-D-glucoside (EC-03)

4.2.6. Hợp chất liriodendrin (EC-7)

4.2.7. Hợp chất rhamnocitrin 3-O-β-D-glucopyranoside (EC-8)

4.2.8. Hợp chất sinapyl alcohol 4-O-β-D-glucopyranoside (EC-10)

4.2.9. Hợp chất 2,3-dihydroxypropyl-benzoate 3-O-α-(4''-methoxy glucuronide) (EC-11)

4.2.10. Hợp chất 1-phenylethyl 6-O-α-L-rhamnopyranosyl-β-D-glucopyranoside (EC-12)

4.2.11. Hợp chất benzyl-O-α-L-rhamnopyranosyl(1→6)-β-D-glucopyranoside (EC-13)

4.3. Hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập được

4.3.1. Tác dụng gây độc đối với các dòng tế bào ung thư của cặn chiết và các hợp chất phân lập

4.4. Tác dụng kháng vi sinh vật kiểm định của cặn chiết và các hợp chất phân lập được

4.5. Tác dụng kháng viêm của các hợp chất phân lập

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Về nghiên cứu thành phần hóa học

Về nghiên cứu hoạt tính sinh học

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC PHỔ CÁC HỢP CHẤT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chi Giá Excoecaria

Chi Giá - Excoecaria thuộc họ Euphorbiaceae, bao gồm khoảng 40 loài, chủ yếu phân bố ở các khu vực nhiệt đới. Tại Việt Nam, đã ghi nhận 6 loài Excoecaria, trong đó cây Giá (Excoecaria agallocha L.) là loài được nghiên cứu nhiều nhất. Các hợp chất được phân lập từ chi này bao gồm flavonoid, tannin, terpenoid và các hợp chất khác. Đặc biệt, các hợp chất diterpenoid là thành phần chính, thể hiện hoạt tính sinh học phong phú. Nghiên cứu về chi Giá không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thành phần hóa học mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển dược phẩm từ thiên nhiên.

II. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Excoecaria

Theo thống kê, trong số hơn 40 loài thuộc chi Excoecaria, chỉ có 10 loài được nghiên cứu về thành phần hóa học. Hơn 250 hợp chất đã được phân lập, bao gồm flavonoid, tannin, terpenoid. Các hợp chất diterpenoid được xác định là thành phần chính, với cấu trúc đa dạng và hoạt tính sinh học phong phú. Nghiên cứu này không chỉ khẳng định giá trị của chi Excoecaria trong y học cổ truyền mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các loại thuốc mới từ thiên nhiên.

III. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của chi Giá Excoecaria

Hoạt tính sinh học của các hợp chất từ chi Giá đã được nghiên cứu rộng rãi. Các hợp chất này thể hiện khả năng ức chế tế bào ung thư, kháng viêm và kháng vi sinh vật. Nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất diterpenoid có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư và có tác dụng kháng viêm mạnh mẽ. Điều này mở ra triển vọng cho việc phát triển các liệu pháp điều trị mới từ các hợp chất thiên nhiên này.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất. Các phương pháp như sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng và phổ NMR được sử dụng để phân tích và xác định cấu trúc của các hợp chất. Đánh giá hoạt tính sinh học được thực hiện thông qua các thử nghiệm gây độc tế bào và kháng vi sinh vật. Phương pháp này giúp xác định rõ ràng các hợp chất có tiềm năng ứng dụng trong y học.

V. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất phân lập từ cây Giá và Đơn lá đỏ có hoạt tính sinh học đáng kể. Các hợp chất mới được phát hiện có khả năng gây độc tế bào ung thư và kháng vi sinh vật. Những phát hiện này không chỉ khẳng định giá trị của các loài thực vật này trong y học cổ truyền mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển dược phẩm từ thiên nhiên. Việc nghiên cứu sâu hơn về các hợp chất này sẽ giúp khai thác tiềm năng của chúng trong điều trị bệnh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trải suốt lịch sử nhân loại, nguồn sinh vật biển và nguồn thực vật đã trở thành nguồn nguyên liệu tiềm năng cho nghiên cứu phát hiện các biệt dược phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Hơn 70% thuốc chống ung thư trên thị trường hiện nay có nguồn gốc thiên nhiên hoặc được tổng hợp theo mẫu hình cấu trúc của hợp chất thiên nhiên. Song song bệnh ung thư hiện đang là vấn đề đau đầu của các nhà khoa học, c c căn bệnh liên quan đến kh ng sinh trước đây được điều trị bằng cách dùng các thuốc kh ng sinh như penicillin, cephalosporin. Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh không những ở Việt Nam và cả trên thế giới, ngoài c c nguyên nhân thường gặp như ở các quốc gia khác, còn có nguyên nhân từ thói quen tự chữa trị và “bắt chước” đơn thuốc của người dân.

Chính những nguyên nhân này làm xuất hiện hiện tượng gọi là kháng kháng sinh. Kháng kháng sinh là tình trạng các vi sinh vật như vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh trùng thay đổi cách thức hoạt động, làm cho các thuốc trị bệnh do chúng gây ra trở nên vô hiệu. Trên thế giới đã xuất hiện các vi khuẩn kháng hầu hết kháng sinh, còn gọi là vi khuẩn siêu kháng thuốc. Vấn đề kháng thuốc không phải là mới, nhưng đã trở nên nguy hiểm, cấp b ch, đòi hỏi phải có nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi cảnh quay trở lại thời kỳ chưa có thuốc kh ng sinh (năm 1942).

Vai trò quan trọng của các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học đã được khẳng định từ các nền y học cổ truyền cho đến y học hiện đại. Giá trị của chúng không chỉ có công dụng trực tiếp làm thuốc chữa bệnh mà vì còn có thể dùng làm nguyên mẫu hoặc cấu trúc dẫn đường cho sự phát hiện và phát triển nhiều dược phẩm mới. Trong việc nỗ lực điều tra, nghiên cứu và tìm kiếm nguồn dược liệu phục vụ cho c c chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, việc thực hiện các nghiên cứu, tìm kiếm các hợp chất có nguồn gốc từ thiên nhiên có hoạt tính gây độc tế bào, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, c c nguồn kháng sinh thế hệ mới… để ứng dụng trong phòng ngừa, chữa trị các bệnh ung thư, kh ng sinh, kh ng lao… là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đã và đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Bên cạnh các nguồn tài nguyên thực vật có mạch trên đất liền, nguồn tài nguyên sinh vật biển, nguồn tài nguyên thực vật rừng ngập mặn và thực vật tham gia ngập mặn đã và đang trở thành đối tượng thu hút nhiều sự quan tâm luan an 2 của các nhà khoa học trong lĩnh vực y sinh-dược học.

Nhiệm vụ nghiên cứu, tìm kiếm các chất có hoạt tính sinh học trong các loài thực vật thuộc rừng ngập mặn đã và đang được triển khai, đang được nhiều cơ sở nghiên cứu quan tâm và theo đuổi nghiên cứu. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của lá cây Giá (Excoecaria agallocha L.) và cây Đơn lá đỏ (Excoecaria cochinchinensis Lour.)” được thực hiện nhằm mục tiêu phát hiện được các hoạt chất có tiềm năng từ cây Giá và Đơn l đỏ góp phần làm rõ hơn những công dụng chữa bệnh trong y học cổ truyền đồng thời làm tăng gi trị khoa học của các cây này ở Việt Nam. Với mục tiêu trên, đề tài có các nội dung như sau: 1. Phân lập và x c định cấu trúc các hợp chất từ cây Giá (Excoecaria agallocha) và Đơn l đỏ (E.

Đ nh gi tác dụng gây độc tế bào, hoạt tính kháng viêm và hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của cặn chiết tổng và các hợp chất phân lập được nhằm tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo. luan an 3 CHƢƠNG I. Giới thiệu về chi Giá – Excoecaria Chi Giá – Excoecaria (họ thầu dầu Euphorbiaceae) trên thế giới có khoảng 40 loài, phân bố chủ yếu ở các khu vực nhiệt đới thuộc châu Phi, châu Á và vùng Tây Bắc nước Úc. Ở Việt Nam đã ghi nhận 6 loài Excoecaria (Bảng I.

Đến nay, chi Giá có khoảng 10 loài đã được nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học [1], trong đó cây Giá (Excoecaria agallocha L.), một cây ngập mặn có nhiều mủ nhựa được tập trung nghiên cứu nhiều nhất [2-5]. Các hợp chất được công bố từ chi Giá gồm các flavonoid, tannin, terpenoid và một số hợp chất khác. Trong số này, các hợp chất diterpenoid của chi này được xác định là thành phần chính, với cấu trúc rất đa dạng, thuộc các dạng khung atisane, beyerane, daphnane, isopimarane, kaurane, labdane và tigliane; cũng như thể hiện hoạt tính rất phong phú [1]. Danh sách các loài thuộc chi Excoecaria ở Việt Nam [6] STT Tên khoa học Tên thƣờng gọi 1 Excoecaria agallocha L.

Giá, Giá mủ, Trà mủ, Chá 2 Excoecaria aporusifolia P. Li Gi l tai nghé, Đơn đỏ lá thàu táu 3 Excoecaria cochinchinensis Lour. Đơn l đỏ, Đơn tía, đơn mặt trời 4 Excoecaria indica (Willd. Trao tráo, Sòi tía Arg.

5 Excoecaria oppositifolia Griff. Trang lim, Trao tr o l đối 6 Excoecaria poilanei Gagnep. Đặc điểm thực vật của chi Giá - Excoecaria Các loài thuộc chi Excoecaria (họ Euphorbiaceae) hiện khoảng 40 loài đã được chấp nhận tên khoa học [7], phân bố ở cả châu Phi, châu Á và Tây Bắc Úc [8]. Cho đến nay, chỉ có khoảng 10 loài đã được nghiên cứu thành phần hóa học cũng như một số đ nh gi hoạt tính sinh học, tuy nhiên, vẫn còn nhiều loài Excoecaria chưa nhận được hoặc chỉ ít sự chú ý, quan tâm nhiều hơn nữa các nghiên cứu thực luan an 4 vật, hóa học và sinh học nên được thực hiện trên những đối tượng này để tìm kiếm các hoạt chất có hoạt tính tiềm năng.

Cây thực vật rừng ngập mặn thuộc chi Giá - Excoecaria được công bố rộng rãi nhất là cây Giá (E. agallocha) [2-5], mủ nhựa đã được sử dụng làm chất tẩy rửa và trong điều trị loét, thấp khớp, phong và tê liệt ở Pakistan. Những lá và mủ nhựa của cây này đã được sử dụng như một chất độc chỉ thị ở Ấn Độ, New Caledonia và Malaysia. Vỏ cây của chi Excoecaria đã được áp dụng trong y học Th i Lan như một phương thuốc hạn chế sự đầy hơi [9].

Gần đây, nhiều sự chú ý đã được tập trung cho các loài Excoecaria do thể hiện nhiều hoạt tính tốt như khả năng ức chế các tế bào ung thư và kh ng virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV-human immunodeficiency virus) của chúng [1]. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Excoecaria Theo thống kê trong Cơ sở dữ liệu Sci-Finder đến năm 2021 [10], trong số hơn 40 loài thuộc chi Excoecaria, có 10 loài đã được nghiên cứu thành phần hóa học bao gồm E. formosana Hayata & Kawak. Những thống kê ở trên cho thấy rằng, các nhà khoa học trên thế giới đã phân lập được hơn 250 hợp chất khác nhau từ các loài Excoecaria [1, 2].

Phân loại cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được kh đa dạng bao gồm flavonoid, tannin, terpenoid và một số hợp chất khác. Tuy nhiên, các kết quả cho thấy các nhóm hợp chất này còn được công bố từ các loài thực vật khác ngoài các loài trong chi Excoecaria. Các hợp chất monoterpenoid Năm 2005, nhóm nghiên cứu của PGS. Phan Minh Giang (Trường Đại học Khoa học tự nhiên) và các cộng sự của Nhật Bản đã phân lập và x c định bốn dẫn xuất megastigmane 1–4 phân lập từ lá của cây Đơn l đỏ (E.

Trong số đó, hợp chất 1 và 2 là các hợp chất mới, đặt tên là excoecarioside A và B [16]. Năm 2015, nhóm nghiên cứu D. Ning công bố một megastigmane đã biết có tên apocynol A (4) cùng với sáu hợp chất khác từ loài E. Các hợp chất diterpenoid Diterpenoid là các chất chuyển hóa quan trọng bao gồm atisane, beyerane, daphnane, isopimarane, kaurane, labdane, tigliane.

phân loại trên cơ sở cấu trúc khác nhau của các liên kết trong khung diterpenoid. Cho đến nay, đây cũng là những thành phần chính được tìm thấy trong 10 loài Excoecaria đã được nghiên cứu thành phần hóa học [1, 2, 11-14]. Đã có hơn 150 diterpenoid đã được phân lập từ chi Excoecaria [1-3], nhóm chất này thể hiện nhiều hoạt tính sinh học tốt, như hoạt tính kháng viêm, ức chế tế bào ung thư, kháng virus HIV và chống oxy hóa [1]. Nhóm chất labdane: Năm 1996, T.

Konishi và cộng sự (Nhật Bản) đã công bố phân lập được ba hợp chất mới khung labdane diterpenoid (5–7) là ent-11α- hydroxy-3-oxo-13-epi-manoyl oxide (5), ent-16-hydroxy-3-oxo-13-epi-manoyl (6), ent-15-hydroxy-labda-8(17),13E-diene-3-one (7) và bốn hợp chất đã biết khác (8– 11) từ E. Konishi và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất labdane diterpenoid mới từ phần thân gỗ của E. agallocha là ent-13-epi- 8,13-epoxy-2-hydroxylabda-1,14-dien-3-one (15), ent-13-epi-8,13-epoxy-14S,15- dohydroxylabdan-3-one (16), ent-13-epi-8,13-epoxy-2,3-secolabd-14-ene-2,3-dioic acid (27), ent-13-epi-8,13-epoxy-2,3-secolabd-14-ene-2,3-dioic acid 3-methyl ester (28) và ent-13-epi-8,13-epoxy-2-oxa-3-oxolabd-14-ene-1R-carboxylic acid (29) [19]. Đồng thời, cùng thời gian này nhóm nghiên cứu của T.

Konishi công bố một hợp chất seco-labdane diterpenoid mới là excoecarin H (31) [20]. Tiếp một năm sau, năm 1999, T. Konishi và cộng sự tiếp tục công bố ba hợp chất là excoecarin G1-G2 (17–18) và F (30) cũng từ chính loài này [21]. Năm 2000, từ phân đoạn n-hexane của phần rễ cây E.

Anjaneyulu và cộng sự đã phân lập và x c định được 11 dẫn xuất diterpenoid, trong đó có bốn hợp chất mới được đặt tên là agallochin A-C (19–21), agallochin E (36) và các hợp chất đã biết như ent-16-hydroxy-3-oxo-13-epi-manoyl oxide (6), ent- (13E)-15-hydroxy-labda-8(17),13-dien-3-onelabda (7), ribenone (8), ribenol (9), luan an 6 13E-diene-3β,15-diol (11) và excoecarin B (13) [22]. Năm 2003, từ phân đoạn EtOAc của phần rễ cây E. agallocha, các nhà hoa học Ấn Độ đã công bố năm diterpenoid trong đó có ba seco-diterpenoid mới là agallochin M-O (32, 37 và 51), hai hợp chất đã biết được x c định là excoecarin H methylester (31) và ent-15,16- epoxybeyeran-3α-ol [23]. Cũng vào năm 2003, nhóm nghiên cứu của T.

Konishi (Nhật Bản) tiếp tục công bố thêm ba labdane diterpenoid mới, đặt tên là excoecarin S, T1 và T2 (33–35), cùng ba dẫn xuất diterpenoid kh c đã biết t ch được từ phần thân gỗ cây E. Hai bis-secolabdane diterpenoid mới, excoecarin R1- R2 (38–39), được T. Konishi và cộng sự phân lập từ mủ nhựa của E. Yang và cộng sự (Trung Quốc) đã nghiên cứu cặn chiết EtOAc từ cành và lá của cây E.

cochinchinensis và x c định được ba hợp chất diterpenoid mới (các hợp chất diterpenoid có chứa nhiều nhóm thế oxi) đặt tên là excolabdone A-C (23–25) [26].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của lá cây giá và đơn lá đỏ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thành phần hóa học và các hoạt tính sinh học của hai loại cây này. Nghiên cứu không chỉ làm rõ các hợp chất có lợi mà còn chỉ ra tiềm năng ứng dụng trong y học và công nghiệp dược phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách mà các hợp chất này có thể hỗ trợ trong việc phát triển các sản phẩm tự nhiên, từ đó mở ra hướng đi mới cho nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ khoa học khảo sát qui trình chiết tách ent kauran diterpenoid từ lá cây khổ sâm bắc bộ, nơi nghiên cứu về quy trình chiết xuất các hợp chất từ thực vật. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần hóa học hoạt tính sinh học của loài nàng nàng callicarpa candicans và loài tử châu lá to callicarpa macrophylla ở việt nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các hoạt chất sinh học từ thực vật. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số loài thuộc chi chòi mòi antidesma ở việt nam, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu tương tự trong lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các hoạt chất và ứng dụng của chúng trong cuộc sống.