CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về đinh lăng 1. Tên gọi Đinh lăng hay còn gọi là cây gỏi cá, nam dương sâm.
Tên khoa học Polycias fruticosa (L.) Harms, Thuộc họ ngũ gia bì Araliaceae Tên đồng nghĩa: Panax fruticosum L, Nothopanax fruticosum (L.) Miq, Tieghenopanax fruticosus (L. Mô tả cây Đinh lăng thường được gọi là cây gỏi cá vì nhân dân hay lấy lá để ăn gỏi cá, là loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thường cao 0,8 đến 1,5 m. lá kép 3 lần xẻ lông chim dài 20-40 cm, không có lá kèm rõ. Lá chét có cuống gầy dài 3-10 mm, phiến lá chét có răng cưa không đều, lá có mùi thơm.
Cụm hoa hình chùy ngắn 7-18 mm gồm nhiều tán, mang nhiều hoa nhỏ. Tràng 5, nhị 5 với chỉ nhị gầy, bầu hạ 2 ngăn có dĩa trắng nhạt. quả dẹt dài 3-4 mm, dài 1 mm có vòi tồn tại [6],[20]. Rễ đinh lăng nên thu hoạch vào mùa đông ở những cây trồng từ 3 năm trở lên (trồng càng nhiều năm thì hệ rễ càng phát triển và lượng hợp chất thu được càng nhiều).
Lá có thể thu hoạch quanh năm, thường dùng lá tươi [6]. Cây đinh lăng [38] Luan van 4 1. Phân bố Đinh lăng có nguồn gốc từ Thái Bình Dương, xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu và thường được trồng làm cảnh trước cửa đình, cửa chùa, được trồng phổ biến khắp cả nước. Đinh lăng là loại cây ưa ẩm, ưa sáng và bóng mát, cây tái sinh mạnh bằng hạt và cành và do đó thường được trồng chủ yếu bằng hạt và cành.
Để trồng, người ta chọn những cành bánh tẻ, chặt đoạn dài 10-20 cm và cắm xuống đất. Đinh lăng được trồng vào tháng 2-4 hoặc tháng 8-10 hàng năm [6]. Phân loại Phân loại: theo điều tra của Trung tâm sâm Việt Nam ở các tỉnh phía nam, đinh lăng có 6 loài [6]: - Polyscias fructicosa (L) Harms: đinh lăng, đinh lăng hương, đinh lăng lá xẻ, cây gỏi cá - Polyscias balfouriana Bailey: đinh lăng lá tròn, đinh lăng lá xà cừ - Polyscias guifeylei var. lacinita Bailey: đinh lăng lá xoan xẻ, đinh lăng xà cừ nhỏ - Polyscias filicifolia (Merr.et Fourn) Bailey: đinh lăng đuôi phượng, đinh lăng lá rách - Polyscias guilfeylei (Cogh et March) Bailey: đinh lăng lá trổ - Polyscias scutellarie (N.
Burn) Fosberg: đinh lăng lá đĩa Trong các loài trên thì Polyscias fructicosa (L) Harms (đinh lăng hương) là loài phổ biến nhất và quan trọng nhất, được sử dụng để làm thuốc, gia vị và cây cảnh Hình 1.2 Cây đinh lăng lá nhỏ [20] Luan van 5 1. Thành phần hóa học Trong đinh lăng đã tìm thấy có các alkaloit, glucozit, saponin, flavonoit, tannin, vitamin B1, các axit amin trong đó có lyzin, xystein, methionin là những axit amin không thể thay thế được [6], [20]. Thành phần hóa học chính của rễ và lá đinh lăng 3-8 năm tuổi thu thập ở các tỉnh phía nam như Tuy Hòa, Gia Lai – Kon Tum (1984) [6] Hợp chất chính Lá Rễ (%/dược liệu khô) Glycosid 0,79 0,27 Hợp chất khử 21,17 45,17 Alcaloid toàn phần 0,10 0,01 Saponin 5,26 0,42 - Chỉ số bọt 330 10 - Chỉ số phá huyết 250 Yếu - Cắn MeOH 23,82 21,14 Bảng 1. Thành phần hóa học chính của rễ và lá cây Đinh lăng 3-8 năm tuổi thu thập tại trại Dược liệu, Trung tâm Sâm Việt Nam – Hoocmon, Tp.HCM (1988) [6] Hợp chất chính Lá Rễ (%/dược liệu khô) Saponin - Cắn MeOH 34,94 24,57 - Cắn n-BuOH 8,425 1,348 - Saponin toàn phần 1,647 Sapogenin - Acid oleanolic 0,434 0,302 - %/dược liệu khô 2,441 1,047 Luan van 6 Bảng 1.
Hàm lượng saponin ở các bộ phận khác nhau [24] Hàm lượng Saponin toàn phần Bộ phận dược liệu (%) Rễ 0,49 Vỏ rễ 1,00 Lõi rễ 0,11 Lá bánh tẻ 0,38 Ngoài ra trong lá đinh lăng còn có tinh dầu với thành phần chính là β-elemen, α-bergamoten, germacren, γ-bisabolen. Tác dụng dược lý Đinh lăng được coi như nhân sâm vì nó có rất nhiều tác dụng tương tự như nhân sâm: làm tăng cường sức dẻo dai và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, chống hiện tượng mệt mỏi, giúp cho cơ thể ăn ngon, ngủ yên, tăng khả năng lao động và làm việc bằng trí óc, lên cân và chống độc…, cụ thể: - Có tác dụng tăng thể lực, chống stress, kích thích các hoạt động của não bộ, giải tỏa lo âu, mệt mỏi, chống oxy hóa, bảo vệ gan, kích thích miễn dịch [6]. - Lá có thể thể nghiền nhỏ đặt lên vết thương để chống sưng và viêm [6]. - Rễ đinh lăng thường dùng để uống có tác dụng lợi tiểu, dịu thần kinh, giảm đau khớp và kích thích đổ mồ hôi [20].
- Ngoài ra trong dân gian đinh lăng còn được sử dụng để chữa đau dạ con và tăng tiết sữa cho phụ nữ sau sinh [6]. - Tuy nhiên khác với nhân sâm đinh lăng có đặc tính rất quý là không làm tăng huyết áp [4] 1. Một số bài thuốc dân gian từ đinh lăng [6] - Chữa mệt mỏi, biếng hoạt động: rễ đinh lăng phơi khô, thái mỏng 0,5 g thêm 100 ml nước, đun sôi trong 15 phút, chia 2-3 lần uống trong ngày. - Chữa sốt lâu ngày, nhức đầu, háo khát, ho, đau tức ngực, nước tiểu vàng: đinh lăng tươi (rễ, cành) 30 g, lá hoặc vỏ chanh 10 g, vỏ quýt 10 g, lá tre tươi 20 g, cam thảo đất 30 g, rau má tươi 30 g, me chua đất 20 g.
Các vị cắt nhỏ, đổ ngập nước, sắc đặc lấy 250 ml, chia uống 3 lần trong ngày. Luan van 7 - Lợi sữa: lá đinh lăng tươi 50-100 g, bong bóng lợn 1 cái, băm nhỏ trộn với gạo nếp, nấu cháo ăn; hoặc rễ Đinh lăng tươi 30-40 g, thêm 500 ml nước, sắc còn 250 ml, uống nóng, ngày uống 1-2 lần, uống trong 2-3 ngày. - Chữa đau tử cung: cành và lá đinh lăng sao vàng, sắc uống như chè - Chữa mẩn ngứa do dị ứng: lá đinh lăng 80 g, sao vàng sắc uống, dùng trong 2- 3 tháng - Lá đinh lăng phơi khô đem lót gối hoặc trải giường cho trẻ em nằm giúp phòng bệnh kinh giật. Tổng quan về hợp chất saponin 1.
Nguồn gốc – phân loại Tên saponin có nguồn gốc tiếng Latinh. Sapo là xà phòng và nhiều cây chứa saponin được dùng để giặt áo quần như Saponaria officinalist, Quillaja sapoparia…[14], [18]. Các saponin khi thủy phân bằng acid thì cho các phần đường và aglycon (sapogenin) [14]. Các aglycon có thể cấu tạo triterpenoid hay steroid.
Phần đường có thể gồm một hay một số phân tử monose (thường là D-Glucoza, D-Galactoza, L- Arabioza, L-Rammoza) thông qua liên kết glucosid. Cấu tạo chung của saponin [12] Dựa vào cấu tạo hóa học của aglycon mà saponin được chia thành 2 nhóm lớn là: Saponin triterpenoid và Saponin steroid [18], [26] - Saponin triterpenoid có loại trung tính và loại acid, saponin steroid có loại trung tính và loại kiềm. Saponin triterpenoid có phần genin gồm 30 carbon cấu tạo bởi 6 nhóm: hemiterpene, chia thành 2 loại khác nhau: saponin triterpenoid pentacyclic và saponin triterpenoid tetracyclic. + Saponin triterpenoid pentacyclic: gồm 4 nhóm là olean, ursan, lupan, hopan.
Luan van 8 + Saponin triterpenoid tetracyclic: gồm 3 nhóm là dammaran, lanostan và cucurbitan. - Saponin steroid được chia thành 5 nhóm: nhóm spirostan, nhóm furostan, nhóm aminofurostan, nhóm spirosolan và nhóm solanidan. Sự phân bố trong thực vật Saponin steroid thường gặp trong những cây một lá mầm. Các họ hay gặp là: Amaryllidaceae, Dioscoreaceae, Liliaceae, Smilacaceae.
Ðáng chú ý nhất là một số loài thuộc chi Dioscorea L. Đậu, đậu lăng, đậu nành, rau bina và yến mạch chứa một lượng lớn saponin. Cây thổ phục linh chứa nhiều saponin steroid, được dùng rộng rãi trong sản xuất thức uống không cồn [14], [53]. Saponin triterpenoid thường gặp trong những cây 2 lá mầm thuộc các họ như: Acanthaceae, Amaranthaceae, Araliaceae, Campanulaceae, Caryophyll-aceae, Fabaceae, Polygalaceae, Rubiaceae, Sapindaceae, Sapotaceae.
Saponin triterpenoid còn được tìm thấy nhiều trong rễ cam thảo và các loài nhân sâm [14], [18]. Tính chất của saponin * Tính chất vật lý:[18],[31] Saponin thường không màu, trừ trường hợp các gluco-alkaloid, các saponin khác ít cho phản ứng màu đặc trưng, thường ở dạng vô định hình, đa số có vị đắng. Saponin tan được trong dung môi có nước, ethanol, methanol loãng, tan khá chuyên biệt trong n- butanol bão hòa nước, kém tan trong các dung môi hữu cơ kém phân cực, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để kết tủa saponin. Saponin khó bị thẩm tích vì có phân tử lớn.
Saponin khó tinh chế, có điểm nóng chảy từ 2000C trở lên * Tính chất hóa học: [26], [53] - Tính chất tạo bọt và bền khi lắc với nước: đây là tính chất đặc trưng nhất của saponin do phân tử saponin lớn và có đồng thời một đầu ưa nước và một đầu kỵ nước. Tính chất này làm cho saponin giống xà phòng có tính nhũ hóa và tẩy sạch. - Tính phá huyết: đây cũng là tính chất đặc trưng của saponin, làm phá vỡ hồng cầu ngay ở nồng độ rất loãng. Người ta cho rằng tính phá huyết có liên quan đến sự tạo phức giữa saponin với cholesterol và các este của cholesterol trong màng hồng cầu, nhưng có nhiều trường hợp chỉ số phá huyết và khả năng tạo phức với cholestrerol Luan van 9 không tỉ lệ thuận với nhau nên phải xét ảnh hưởng của saponin trên các thành phần khác của màng hồng cầu.
- Tính độc với cá và một số động vật máu lạnh, động vật thân mềm: tính chất này được giải thích do saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp làm mất các chất điện giải cần thiết. - Tính tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3- β – hydroxysteroid khác đôi khi người ta lợi dụng tính chất này để tách saponin hoặc ngược lại, dùng saponin để tách hoặc tinh chế những chất 3 – β hydroxysteroid khác. Tổng quan về phương pháp sấy 1. Bản chất của quá trình sấy Sấy là quá trình tách ẩm ra khỏi vật liệu nhằm tránh hư hỏng trong bảo quản, tăng độ bền cho sản phẩm, giảm trọng lượng, giảm chi phí vận chuyển và tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm.
Lựa chọn phương pháp và chế độ sấy Việc lựa chọn phương pháp và chế độ sấy phụ thuộc vào tính chất của vật liệu sấy. Quá trình sấy là quá trình rất quan trọng, các thông số của quá trình sấy phải được lựa chọn sao cho vật liệu sau sấy đạt được độ ẩm thích hợp mà chất lượng không bị thay đổi. Tùy thuộc vào yêu cầu của từng loại sản phẩm, điều kiện kinh tế người ta sẽ lựa chọn phương thức sấy tối ưu để thu được sản phẩm có chất lượng tốt với chi phí hợp lý. Một số loại phương pháp sấy được sử dụng phổ biến trong công nghệ thực phẩm là: sấy đối lưu, sấy thăng hoa, sấy bơm nhiệt, sấy chân không… 1.