Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Acid uric máu: Nguồn gốc, cấu trúc, phân loại, chuyển hóa, thải trừ 1. Nguồn gốc, cấu trúc hóa học Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa acid nucleic có nhân purin (adenin, guanidin), công thức hóa học của acid uric là 2,6,8- trihydroxypurin (Hình 1. Acid nucleic khi bị thủy phân sinh ra AMP (adenosine monophosphate), GMP (guanosine monophosphate).
Các chất này tiếp tục thoái hóa thành acid uric. Acid uric là một chất ít tan trong nước, lưu thông trong huyết tương dưới dạng muối urat. Acid uric hòa tan được là nhờ sự hiện diện của protein [15].1 Công thức cấu tạo acid uric Nguồn: Annu. Phân loại Trong cơ thể người, AUM có nguồn gốc nội sinh và ngoại sinh.
Nguồn ngoại sinh, do thoái giáng các acid nucleic có nhân purin từ thực phẩm ăn vào, chiếm khoảng 30% lượng acid uric trong cơ thể. Nguồn nội sinh, do thoái biến acid nucleic từ nhân các tế bào bị tiêu hủy và do tổng hợp nội sinh 5 chuyển hoá purin trong cơ thể nhờ các men đặc hiệu, chiếm khoảng 70% lượng acid uric trong cơ thể. Các quá trình này khá phức tạp và hầu như không thể can thiệp. Bình thường, nồng độ AUM ở người Nam trưởng thành là 300±60µmol/L (50±10,08mg/l); ở Nữ là: 240±60µmol/L (40±10,08 mg/l) [15].
AUM có vai trò là chất dẫn truyền thần kinh và là chất chống oxy hóa của cơ thể. Chuyển hóa và thải trừ Trong cơ thể bình thường, với chế độ ăn giàu purin (cua, thịt, thận, gan…), con đường thoái hóa các base purin dưới dạng purin nucleotid (GMP, AMP, IMP) là chủ yếu và enzym adenosin deaminase tham gia vào quá trình này có nhiều ở mô động vật. Quá trình tạo ra acid uric được xúc tác bởi enzym xanthin oxyase (XO, còn được gọi là xanthin oxyoreductase - XOR), được mã hóa bởi gen xanthin dehydrogenase XDH. Phần lớn acid uric bài tiết qua thận dưới dạng muối urate, khoảng 90-95% urate lọc qua, được tái hấp thu lại ở ống lượn gần, do đó, bình thường chỉ có khoảng 3-10% urate được bài tiết qua nước tiểu [95].
Tăng acid uric máu 1. Định nghĩa Tăng acid uric máu (AUM) được xác định khi nồng độ AUM >360µmol/L ở nữ giới và 420µmol/L ở nam giới [15]. Nguyên nhân tăng acid uric máu Có 2 yếu tố chính tạo nên tình trạng tăng AUM, một là do giảm bài tiết muối urate ở thận và hai là do tăng quá trình chuyển hóa đạm nhân purin, nguồn gốc tạo nên acid uric. Trong đó, giảm bài tiết urate ở thận là yếu tố thường gặp nhất trong tăng AUM nguyên phát, còn tình trạng tăng chuyển hóa đạm nhân purin, tạo nên acid uric, lại là yếu tố thường gặp nhất trong tăng AUM thứ phát.
Tăng acid uric nguyên phát Tăng AUM nguyên phát được đặc trưng bởi loại tăng AUM do giảm bài tiết acid uric dưới dạng muối urate qua thận. Thường gặp ở người ăn quá nhiều đạm chứa nhân purin, hoặc nghiện rượu. Loại này có tính chất gia đình đa số gặp là bẩm sinh, khởi phát thường do uống quá nhiều rượu. Đây là loại thường gặp nhất, chiếm 99% các trường hợp tăng AUM trong cộng đồng.
Bệnh gút di truyền là biểu hiện đặc trưng của loại này, gặp nhiều ở nam hơn nữ giới, do gen quyết định. Khoảng 1% tăng AUM do sản xuất AUM quá mức được xếp vào nhóm tăng AUM nguyên phát. Đây là loại hiếm gặp, do có các bất thường trong tổng hợp enzym chuyển hóa nhân purin, như: thiếu hụt hoàn toàn hoặc một phần enzym hypoxanthin guanin phosphoribosyl transferase (HGPRT), hoặc do tăng hoạt tính của enzym phosphoribosyl pyrophosphate (PRPP). Tăng acid uric máu thứ phát Đa số những nguyên nhân gây tăng chuyển hóa đạm nhân purin, tạo nên AUM được xếp vào loại này.