CHƯƠNG 1.1: Tổng quan về cây thuốc Đan sâm: 1.1: Đặc điểm thực vật: Đan sâm (Salvia miltiorrhiza), tên tiếng Trung là Danshen, là một loại thảo dược truyền thống của Trung Quốc. Nó là một loài thực vật có hoa lâu năm trong chi Salvia, được đánh giá cao vì rễ của nó trong YHCT Trung Quốc. Có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản, nó mọc ở độ cao 90-1200 m, ưa thích những nơi có cỏ trong rừng, sườn đồi và dọc theo bờ suối ở các tỉnh phía tây và tây nam của Trung Quốc. Cây thuộc loại cây lâu năm rụng lá.
Nó cao đến 30 - 60 cm [2]. Rễ hình trụ đường kính 0,5 - 1,5cm màu đỏ nâu. Lá kép mọc đối, phiến lá có lông, hoa mọc thành chùm ở đầu cành, hoa môi, màu đỏ tím nhạt, quả nhỏ dài 3mm, rộng 1,5 mm [76]. Cánh hoa có màu tím hoặc xanh lam nằm trong đài hoa màu tím sẫm.
Eptiorrhiza cụ thể có nghĩa là "nước màu đỏ chiết xuất từ rễ" (Clebsch và cộng sự, 2003) [2]. Hình 1: Lá và hoa cây Đan sâm 1.2: Phân bố và thu hái: 1.1: Phân bố: Đan sâm được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các vùng của Trung Quốc, bao gồm một số vùng dân tộc thiểu số như Nội Mông, và được trồng trên quy mô lớn ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Tây, Sơn Đông và Tứ Xuyên. Tuy nhiên, 3 Tieu luan không dễ để phân biệt với một số loài giống nhau về hình thái. Nông dân và dân làng thường tìm cách thu hái rễ có vỏ màu đỏ của các loài Salvia và sử dụng chúng như rễ đan sâm.
Do đó, trong một số thị trường thảo mộc, rễ đan sâm có thể đến từ rễ của các loài khác ngoài đan sâm, đặc biệt là ở những vùng có một số loài giống đan sâm về hình thái. Ví dụ, rễ của S. bowleyana , được gọi là Nandanshen, có sẵn để mua và sử dụng như rễ đan sâm ở các vùng núi xa xôi của các tỉnh Chiết Giang, Giang Tây và Phúc Kiến và rễ của S. paramiltiorrhiza được sử dụng như rễ đan sâm ở Dabie vùng núi của tỉnh An Huy và Hồ Bắc [3].
Năng suất rễ khô / 667 m 2 của đan sâm ở Hà Nam và Sơn Tây dao động từ 200 đến 372 kg, trong khi ở Sơn Đông là 250–465 kg [4]. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, cây đan sâm đã được di thực vào Việt Nam từ Trung Quốc và được trồng thử nghiệm tại các trạm nghiên cứu trồng cây thuốc ở Sa Pa, Tam Đảo và Hà Nội. Cây sinh trưởng phát triển tương đối tốt, ra hoa quả hàng năm, đã thu được hạt và dược liệu [68], nhưng sau đó do không được quan tâm đúng mức nên chưa phát triển. Hiện nay dược liệu Đan sâm chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, nên vấn đề chất lượng và giá cả không ổn định, làm ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu sử dụng trong nước, đặc biệt là trong y học cổ truyền và sản xuất thuốc.2: Thu hái: Đan sâm ra hoa tháng 4 - 6, quả tháng 7 - 9.
Rễ cây có vỏ màu đỏ nâu, trên mặt cắt ngang có nhiều vết màu đỏ sẫm, nên vị thuốc có tên gọi Ðan (Ðơn) sâm, tức là sâm có màu đỏ tía [76]. Mùa xuân hay mùa thu, đào lấy rễ và thân rễ, rửa sạch, cẳt bỏ rễ con và thân còn sót lại, phơi hoặc sấy khô [70].3: Bộ phận dùng làm thuốc: Bộ phận dùng làm thuốc của đan sâm là rễ khô. Là một trong những loại thuốc thảo dược Trung Quốc linh hoạt nhất, đôi khi được mô tả là cây xô thơm Trung Quốc hoặc rễ cây xô thơm đỏ. Đan sâm không thường xuyên được sử 4 Tieu luan dụng trong y học Trung Quốc cổ đại, nhưng nó đã trở thành một loại thảo mộc quan trọng trong thực hành lâm sàng hiện đại của Trung Quốc.
Nó đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị và ngăn ngừa bệnh tim mạch, tăng lipid máu và bệnh mạch máu não trên khắp thế giới (Cheng và cộng sự, 2007). Sự chuyển đổi của đan sâm từ một thành phần ít được sử dụng và phụ trong công thức thành một loại thảo mộc chủ chốt là một câu chuyện làm sáng tỏ sự phát triển của truyền thống y học Trung Quốc. Hiện nay, đan sâm thường được sử dụng rộng rãi kết hợp với các loại thảo mộc khác [2]. Hình 2: Rễ của cây Đan sâm Hình 3: Rễ khô của cây Đan sâm 1.4: Thành phần hóa học: Các thành phần hóa học của đan sâm đã được nghiên cứu từ đầu những năm 1930.
Tuy nhiên, những nghiên cứu ban đầu này chủ yếu tập trung vào các hợp chất ưa béo. Các nghiên cứu gần đây đã tập trung nhiều hơn vào các hợp chất ưa nước, và ít nhất 50 thành phần đã được phân lập và xác định từ các chất chiết xuất từ nước của đan sâm [10]. Thành phần hóa học chính trong cây đan sâm (Salvia milltiorrhiza Bunge.) là acid phenolic, diterpene, flavonoid và một số thành phần khác. Bộ phận trên mặt đất của loài này có chứa flavonoid, triterpenoid và monoterpenoid đặc biệt là trong hoa và lá.
Trong khi đó, diterpene và acid phenolic lại được tìm thấy chủ yếu ở rễ [5].1: Các hợp chất diterpene: Hơn 30 hợp chất diterpene đã được tách và xác định từ đan sâm. Hầu hết chúng là các hợp chất chinone diterpene thuộc loại tanshinone, bao gồm tanshinone I, IIA, IIB; cryptotanshinone; và các hợp chất liên quan khác. Trong số này, tanshinone IIA và cryptotanshinone được nghiên cứu nhiều nhất và các hoạt động dược lý của chúng đã được nghiên cứu [6] [7]. Hình 4: Cấu trúc hóa học của các hợp chất ưa béo chính của đan sâm 1.2: Các hợp chất ưa nước: Axit phenolic là chất chính trong các thành phần ưa nước của đan sâm.
Nhiều trong số này có các hoạt tính dược lý đã biết và có đủ lượng [6] [8].3: Các hợp chất khác: 6 Tieu luan Ngoài axit phenolic và các hợp chất diterpene, các hợp chất khác bao gồm baicalin, β ‐ sitosterol, axit ursolic và daucosterol được phân lập từ chiết xuất rượu, và 5,3′ ‐ dihydroxy ‐ 7,4′ ‐ dimethoxy flavanone được phân lập từ dịch chiết ethyl acetate. Hơn nữa, vitamin E và tanin cũng đã được tìm thấy trong một số chiết xuất đan sâm [6].2: Vị thuốc Đan sâm (Radix Salviae miltiorrhizae) Đan nghĩa là đơn là đỏ, vì cây sâm này có rễ màu đỏ, rễ cây đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge. Họ Hoa môi Lamiaceae. Hình 6: Vị thuốc Đan sâm 1.1: Bột dược liệu: Màu đỏ nâu.
Soi kính hiển vi thấy: Các tế bào bần hình đa giác hoặc gần chữ nhật khi nhìn trên bề mặt, có chứa các khối màu nâu vàng, đường kính từ 12 μm đến 151 μm. Tế bào mô mềm vỏ hình gần vuông hoặc hình đa giác, có chứa các khối màu nâu đỏ. Sợi gỗ thường tụ thành bó, hình thoi dài có vân dọc hoặc chéo, đường kính từ 11 μm đến Hình 7: Bột, cây và vị thuốc đan sâm 60 μm, có màu vàng sặc sỡ nếu quan sát 7 Tieu luan dưới kính hiển vi phân cực. Nhiều mạch lưới và mạch viền, đường kính từ 3 μm đến 120 μm [70].2: Bào chế - Bảo quản [70]: 1.1: Bào chế: Đan sâm khô, loại bỏ tạp chất và thân sót lại.
Rửa sạch, ủ mềm, thái lát dày, phơi khô để dùng. Tửu đan sâm (Chế rượu): Lấy đan sâm đã phơi khô thái phiến, thêm rượu, trộn đều, đậy kín, để 1h cho ngấm hết rượu, đem sao nhỏ lửa đến khô, lấy ra, để nguội. Cứ 10 kg đan sâm dùng 1 lít rượu.2: Bảo quản: Để nơi khô, mát, tránh mốc, mọt.3: Tính vị - quy kinh [69]: 1.1: Tính vị: Vị đắng.2: Quy kinh: Quy 2 kinh Tâm, Can.4: Công năng – chủ trị [69]: Hoạt huyết, trục huyết ứ: dùng để trị hành kinh không đều, đau bụng kinh, bế kinh, sau khi đẻ huyết ứ đọng, gây đau bụng; các trường hợp do chấn thương mà cơ gân sưng tấy đau đớn. Dưỡng tâm, an thần: dùng trong các bệnh tâm hồi hộp, mất ngủ, suy nhược thần kinh; còn dùng trong bệnh co thắt động mạch vành tim, phối hợp với đương quy, táo nhân.
8 Tieu luan Bổ huyết có thể dùng đối với các bệnh thiếu máu, đặc biệt đối với các bệnh mặt nhợt nhạt, xanh xao của phụ nữ chưa có chồng. Khi dùng với tính chất bổ huyết thì dùng đan sâm dạng không qua chế biến. Bổ can tỳ: dùng trong các trường hợp gan và lá lách bị sưng to, trị bệnh huyết hấp trùng đều có hiệu quả. Giải độc: dùng trong các trường hợp sang lở, mụn nhọt.5: Liều dùng, kiêng kỵ: 1.2: Kiêng kỵ: Không dùng chung với Lê lô [70].
Phụ nữ có thai dùng cẩn thận [74]. Những người máu quá lỏng không uống [74] 1.6: Tác dụng dược lý: Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng dược lý của rễ đan sâm từ trước đến nay, bao gồm: Ảnh hưởng đến các bệnh tim mạch: Đan sâm đã được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh mạch máu, bao gồm xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, tăng lipid máu và đột quỵ ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Châu Âu [10] [11]. Chống thiếu máu cục bộ cơ tim do có thành phần tanshinon IIA [12], axit salvianolic [13], cryptotanshinone [14]. Chống thiếu máu não do có thành phần tanshinone IIA [15], axit salvianolic A [16], tanshinone I [17].
Chống huyết khối do có thành phần axit salvianolic B [18], axit salvianolic A [19], tanshinone IIA [20]. 9 Tieu luan Phòng và điều trị bệnh Alzheimer do có thành phần cryptotanshinone [21]. Phòng và điều trị bệnh Parkinson do có thành phần axit salvianolic B [22]. Chống đau thần kinh do có thành phần axit salvianolic B [23], cryptotanshinone [24].
Phòng bênh đái tháo đường do có thành phần tanshinone I, tanshinone IIA, 15,16-dihydrotanshinone I [25], axit salvianolic A [26]. Chống viêm do có thành phần cryptotanshinone [27]. Chống oxy hóa do có thành phần tanshinone IIA [28], axit salvianolic A [29]. Chống ung thư do có thành phần tanshinone I – ung thư phổi [30], cryptotanshinone – ung thư nguyên bào võng mạc [31], tanshinone IIA – ung thư gan [32], axit salvianolic B - ung thư biểu mô vảy ở miệng [33]; 15, 16-dihydrotanshinone I - ung thư đại trực tràng [34], tanshinones - ung thư tuyến tiền liệt [35].
Chống tổn thương tế bào gan do có thành phần cryptotanshinone [36], axit salvianolic A [37], tanshinone I, tanshinone IIA [38]. Chống tổn thương phổi cấp tính do có thành phần tanshinone IIA [39]. Chống tổn thương thận do có thành phần tanshinone IIA [40]. Chống xơ hóa do có thành phần axit salvianolic B [41] [42], tanshinone IIA [43].