Nghiên cứu ứng dụng cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn trong điều trị ung thư dạ dày

Luận án nghiên cứu ứng dụng cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn trong điều trị ung thư dạ dày, mang lại hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

173
7
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu dạ dày

1.1.1. Hình thể, cấu tạo mô học

1.1.2. Mạch máu, mạc nối, hạch bạch huyết

1.2. Giải phẫu bệnh ung thư dạ dày

1.3. Phẫu thuật cắt dạ dày nội soi hoàn toàn

1.4. Ưu, nhược điểm

1.5. Nghiên cứu kỹ thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn

1.6. Nghiên cứu kết quả cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4.3. Phương tiện nghiên cứu

2.4.4. Quy trình kỹ thuật

2.4.5. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.6. Xử lý số liệu

2.4.7. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.1.1. Giới, tuổi, BMI

3.1.2. Lý do vào viện, tiền sử bệnh

3.1.3. Đặc điểm tổn thương

3.1.4. Đặc điểm kỹ thuật

3.1.4.1. Kỹ thuật giải phóng dạ dày và vét hạch
3.1.4.2. Kỹ thuật cắt và đóng mỏm tá tràng
3.1.4.3. Kỹ thuật phục hồi lưu thông tiêu hóa
3.1.4.4. Kỹ thuật lấy bệnh phẩm, kiểm tra miệng nối

3.2. Kết quả phẫu thuật

3.2.1. Kết quả gần

3.2.2. Kết quả xa

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn

Cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn là một phương pháp phẫu thuật tiên tiến trong điều trị ung thư dạ dày. Phương pháp này không chỉ giúp loại bỏ khối u mà còn bảo tồn tối đa các mô lành xung quanh. Theo nghiên cứu, phẫu thuật dạ dày nội soi hoàn toàn mang lại nhiều lợi ích như giảm thiểu đau đớn, thời gian hồi phục nhanh hơn và giảm nguy cơ biến chứng. Việc áp dụng kỹ thuật nội soi trong phẫu thuật đã mở ra một hướng đi mới trong điều trị ung thư dạ dày, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ sống sót sau phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn cao hơn so với các phương pháp truyền thống.

1.1. Lợi ích của cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn

Phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn có nhiều ưu điểm nổi bật. Đầu tiên, vết mổ nhỏ hơn so với phẫu thuật mở, giúp giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân. Thứ hai, thời gian nằm viện ngắn hơn, cho phép bệnh nhân trở lại cuộc sống bình thường nhanh chóng. Thứ ba, phương pháp này giúp giảm thiểu mất máu trong quá trình phẫu thuật, từ đó giảm nguy cơ biến chứng. Theo một nghiên cứu, tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn chỉ khoảng 10%, thấp hơn nhiều so với phẫu thuật mở. Điều này cho thấy, giải pháp y tế này không chỉ hiệu quả mà còn an toàn cho bệnh nhân.

II. Kỹ thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn

Kỹ thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, phẫu thuật viên sẽ thực hiện giải phẫu dạ dày để xác định vị trí khối u và các cấu trúc xung quanh. Sau đó, việc cắt bỏ phần dạ dày bị ảnh hưởng sẽ được thực hiện thông qua các ống nội soi. Kỹ thuật này yêu cầu sự chính xác cao và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Một trong những điểm nổi bật của phương pháp này là khả năng thực hiện vét hạch đồng thời, giúp loại bỏ các hạch bạch huyết có thể chứa tế bào ung thư. Điều này không chỉ giúp tăng cường hiệu quả điều trị mà còn giảm nguy cơ tái phát bệnh. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn có thể cải thiện tỉ lệ sống sót cho bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn đầu.

2.1. Quy trình phẫu thuật

Quy trình phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn bao gồm nhiều bước cụ thể. Đầu tiên, bệnh nhân sẽ được chuẩn bị trước phẫu thuật, bao gồm các xét nghiệm cần thiết và tư vấn về quy trình. Sau khi gây mê, phẫu thuật viên sẽ thực hiện các vết rạch nhỏ trên bụng để đưa ống nội soi vào. Tiếp theo, các công cụ phẫu thuật sẽ được đưa vào để thực hiện cắt bỏ phần dạ dày bị ung thư. Sau khi hoàn tất, các mạch máu sẽ được cầm máu và miệng nối sẽ được kiểm tra để đảm bảo không có rò rỉ. Cuối cùng, bệnh nhân sẽ được theo dõi chặt chẽ trong thời gian hồi phục. Kỹ thuật này không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà còn cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong đội ngũ y tế.

III. Kết quả và đánh giá sau phẫu thuật

Kết quả sau phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn thường được đánh giá qua nhiều chỉ số khác nhau. Tỉ lệ sống sót sau phẫu thuật là một trong những chỉ số quan trọng nhất. Theo các nghiên cứu, tỉ lệ sống sót sau 5 năm cho bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫu thuật bằng phương pháp này đạt khoảng 70%. Ngoài ra, các biến chứng sau phẫu thuật cũng được ghi nhận. Tỉ lệ biến chứng như nhiễm trùng, chảy máu hay rò rỉ miệng nối thường thấp hơn so với các phương pháp phẫu thuật truyền thống. Điều này cho thấy, cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn không chỉ mang lại hiệu quả điều trị cao mà còn an toàn cho bệnh nhân. Việc theo dõi và chăm sóc sau phẫu thuật cũng rất quan trọng để đảm bảo bệnh nhân hồi phục tốt nhất.

3.1. Tỉ lệ sống sót và biến chứng

Tỉ lệ sống sót sau phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả điều trị. Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ sống sót sau 5 năm đạt khoảng 70%, cho thấy phương pháp này có khả năng điều trị hiệu quả cho bệnh nhân ung thư dạ dày. Bên cạnh đó, tỉ lệ biến chứng cũng được ghi nhận là thấp, chỉ khoảng 10%. Các biến chứng thường gặp bao gồm nhiễm trùng, chảy máu và rò rỉ miệng nối. Việc giảm thiểu biến chứng không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mà còn giảm thiểu chi phí điều trị. Điều này khẳng định giá trị thực tiễn của phương pháp cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn trong điều trị ung thư dạ dày.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu dạ dày Dạ dày là phần lớn nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng, nằm ở tầng trên ổ bụng, dưới cơ hoành, chạy dài từ hạ sườn trái xuống dưới và qua phải. Dung tích của dạ dày khoảng 30 ml ở trẻ sơ sinh, 1000 ml ở tuổi dậy thì và 1500 ml ở người trưởng thành. Hình thể, cấu tạo mô học * Hình thể: Dạ dày rỗng có hình chữ J với hai thành (thành trước và thành sau), hai bờ (bờ cong nhỏ và bờ cong lớn) và hai đầu (tâm vị ở trên và môn vị ở dưới).

Các phần của dạ dày từ trên xuống gồm: tâm vị, đáy vị, thân vị và môn vị (Hình 1. Phân chia dạ dày Nguồn: Nguyễn Quang Quyền (2012) [15]. * Cấu tạo mô học: Cấu tạo của thành dạ gồm 5 lớp, từ ngoài vào trong lần lượt là: lớp thanh mạc, lớp dưới thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc, lớp niêm mạc. 4 Lớp thanh mạc: nằm ở ngoài cùng, là một phần của lá phúc mạc tạng, là sự liên tục của mạc nối nhỏ, phủ hai mặt trước và sau của dạ dày, đến bờ cong lớn liên tục với mạc nối lớn và mạc nối vị lách.

Lớp dưới thanh mạc: là một tổ chức liên kết rất mỏng ở hai mặt trước và sau của dạ dày, lớp thanh mạc gần như dính chặt vào lớp cơ trừ phía gần hai bờ cong lớn và bờ cong nhỏ. Lớp cơ gồm 3 lớp kể từ ngoài vào trong: cơ dọc (liên tục với các thớ cơ dọc của thực quản và tá tràng); cơ vòng (bao kín toàn bộ dạ dày, đặc biệt ở môn vị tạo nên cơ thắt môn vị rất chắc); cơ chéo (là một lớp không hoàn toàn, chạy vòng quanh đáy vị và đi chéo xuống dưới về phía bờ cong lớn). Lớp niêm mạc: bao và lót mặt trong dạ dày, lồi lõm nhô lên xếp thành các nếp. Mạch máu, mạc nối, hạch bạch huyết * Mạc nối lớn: là do một phần của mạc treo vị sau, chạy dọc theo bờ cong lớn của dạ dày, chạy xuống dưới tỏa ra như một tấm khăn dài rồi quặt ngược lên bám vào đại tràng ngang và mạc treo đại tràng ngang.

Sau đó 2 lá tách ra để bao phủ tá tràng và mặt trước tụy rồi tiếp tục chạy lên tới cơ hoành. Trong phẫu thuật cắt dạ dày triệt căn cần phải lấy luôn cả lá phúc mạc mặt trước mạc treo đại tràng ngang và tụy. * Mạc nối nhỏ: là màng gồm 2 lá phúc mạc, nối từ gan vào bờ cong nhỏ dạ dày và vào tá tràng. Nó chạy ở mặt dưới gan theo rãnh ngang, liên quan với cuống gan đi lên dính vào bờ phải thực quản, dọc xuống bờ cong nhỏ dạ dày và phần trên tá tràng (D1).

Bờ phải của mạc nối nhỏ là dây chằng gan tá tràng chứa cuống gan gồm: động mạch (ĐM) gan riêng, tĩnh mạch (TM) cửa và các ống mật chủ. * Động mạch: ĐM chính cấp máu cho dạ dày đều bắt nguồn từ ĐM thân tạng (Hình 1.2) gồm: 5 - ĐM lách xuất phát từ ĐM thân tạng chia 4 nhánh: ĐM lách, ĐM vị ngắn, ĐM vị sau và ĐM vị mạc nối trái. - ĐM gan chung xuất phát từ ĐM thân tạng chia 2 nhánh: ĐM gan riêng và ĐM vị tá tràng. ĐM gan riêng chia 2 nhánh: ĐM gan và ĐM vị phải.

ĐM vị tá tràng chia 3 nhánh: ĐM tá tràng trên, ĐM dưới môn vị và ĐM vị mạc nối phải. Động mạch cung cấp máu cho dạ dày Nguồn: Zollinger’s Atlas of Surgical Operations [16] ĐM vị ngắn: xuất phát từ các nhánh tận của ĐM lách hoặc từ chính ĐM lách. ĐM này đi đến phần trên thân vị và phình vị. Trong phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày, kèm vét hạch D2, ĐM này được bảo tồn để cung cấp máu cho phần dạ dày còn lại.

ĐM vị sau: thường tách ra từ ĐM lách đi lên phần sau thân vị, tâm vị và phình vị. Các ĐM này nối với nhau tạo thành 2 vòng nối quanh dạ dày là vòng nối bờ cong nhỏ và vòng nối bờ cong lớn. Vòng nối bờ cong nhỏ: tạo bởi ĐM vị trái và ĐM vị phải. ĐM vị trái 6 xuất phát từ ĐM thân tạng, đi lên trên sang trái nằm trong mạc nối nhỏ đến dưới trụ hoành trái.

ĐM vị phải xuất phát từ ĐM gan riêng, đến phần dưới của bờ cong nhỏ tách ra làm một hoặc nhiều nhánh trên môn vị, đồng thời đi dọc theo bờ cong nhỏ của dạ dày tới nối với ĐM vị trái. Vòng nối bờ cong lớn: tạo bởi ĐM vị mạc nối phải và ĐM vị mạc nối trái. ĐM vị mạc nối phải tách ra từ ĐM vị tá tràng ở bờ dưới tá tràng D1, đi trong mạc nối vị đại tràng, song song với bờ cong lớn, lên trên cấp máu cho môn vị, thân vị và những nhánh xuống gọi là nhánh mạc nối. ĐM vị mạc nối trái tách ra từ ĐM lách, trong rốn lách hay tách từ một nhánh của ĐM vị ngắn, đi vào mạc nối vị lách, dọc theo bờ cong lớn, trong dây chằng vị đại tràng, cho những nhánh bên như ĐM vị mạc nối phải.

* Tĩnh mạch: gồm các TM cùng tên với ĐM, đổ về TM cửa hoặc hợp với TM lách đổ về TM cửa và dẫn máu về gan (Hình 1. TM vị trái hay còn gọi là TM vành vị đổ trực tiếp về TM cửa hoặc TM lách. TM vị trái thường không đi kèm sát với ĐM vị trái, nên trong phẫu thuật, phẫu thuật viên cần phải phẫu tích và thắt riêng biệt. TM vị phải đổ trực tiếp về tĩnh mạch cửa ở rốn gan.

TM vị mạc nối trái đổ về TM lách hoặc vào một trong các nhánh tận của TM lách. TM vị mạc nối trái thường đi kèm và sát với ĐM vị mạc nối trái, nên trong phẫu thuật có thể thắt và cắt chúng cùng nhau. TM vị mạc nối phải đổ về TM mạc treo tràng trên, qua thân TM vị đại tràng (hợp bởi 3 TM là: TM vị mạc nối phải, TM đại tràng phải trên và TM tá tụy trước trên). TM vị mạc nối trái thường đi kèm và sát với ĐM vị mạc nối trái, nên trong phẫu thuật, phẫu thuật viên có thể thắt và cắt chung cùng nhau.

Tĩnh mạch dạ dày Nguồn: Zollinger’s Atlas of Surgical Operations [16] * Các chuỗi hạch quanh dạ dày Hạch bạch huyết quanh dạ dày gồm có 3 chuỗi (Hình 1. Chuỗi hạch quanh dạ dày Nguồn: Frank H.Netter(2013) ATLAS Giải phẫu người [17] Chuỗi hạch bạch huyết dạ dày: dọc theo bờ cong nhỏ dạ dày, nhận bạch huyết của 1/2 nhánh phải phần đứng và 1/2 trên phần ngang dạ dày 8 Chuỗi hạch bạch huyết vị - mạc nối: nhận bạch huyết của 1/2 trái thân vị và 1/2 dưới phần ngang dọc bờ cong lớn dạ dày Chuỗi hạch bạch huyết tụy - lách: nhận bạch huyết của đáy vị và 1/2 trên thân vị * Phân chia nhóm hạch dạ dày Năm 1981, Hiệp hội nghiên cứu về Ung thư dạ dày của Nhật Bản đã đưa ra bảng phân chia các nhóm hạch với 16 nhóm và 4 chặng. Đến năm 2011, bảng phân chia này đã được tái bản lần thứ 3 và bổ sung nhiều chi tiết rõ ràng và cụ thể hơn (Hình 1. Phân bố hạch quanh dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association (2011) [18] 1.

Giải phẫu bệnh ung thư dạ dày * Đại thể: Hiệp hội Ung thư dạ dày Nhật Bản phân chia đại thể của ung thư dạ dày thành 6 loại như sau (Hình 1. Loại 0: thể bề mặt Loại 0-I: dạng lồi (u dạng polyp) Loại 0-II: dạng bề mặt, chia thành 3 nhóm nhỏ 9 Loại 0-IIa: dạng nhô nông (u hơi gồ cao so với niêm mạc xung quanh) Loại 0-IIb: dạng phẳng (u phẳng so với niêm mạc xung quanh) Loại 0-IIc: dạng lõm nông Loại I: thể sùi (u có giới hạn rõ với niêm mạc xung quanh) Loại II: thể loét không thâm nhiễm (ổ loét với bờ rõ và nhô cao) Loại III: thể loét thâm nhiễm (ổ loét với bờ nhô cao nhưng không rõ ranh giới) Loại IV: thể thâm nhiễm lan tỏa (u giới hạn bờ rõ, không loét, thành dày, cứng, lan tỏa toàn bộ hay phần lớn dạ dày) Loại V: không xếp loại được (thương tổn không thuộc các loại trên) Hình 1. Các hình thái tổn thương đại thể dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association (2011) [18] * Vi thể: phân loại theo Lauren, ung thư biểu mô dạ dày có 2 loại chính: Ung thư biểu mô ruột (53%): các tế bào gắn kết nhau, có xu hướng sắp xếp thành ống tuyến, giống như các ung thư biểu mô tuyến đường tiêu hóa khác (biệt hóa cao). Ung thư biểu mô dạng lan tỏa (33%): các tế bào u thiếu sự gắn kết, không tạo ống tuyến, xâm lấn mạnh vào tổ chức xung quanh 10 (không biệt hóa).

Loại này có xu hướng phát triển rộng, có tiên lượng xấu hơn dạng ung thư biểu mô ống tuyến [19]. Phân loại theo WHO (2000), chia làm 8 loại như sau: ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu tuyến nhú, ung thư biểu mô tuyến ống, ung thư biểu mô tuyến nhầy, ung thư biểu mô tế bào nhẫn, ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tế bào nhỏ, ung thư biểu mô không biệt hóa [20]. Ung thư biểu mô tuyến dạ dày được các nhà giải phẫu bệnh xếp thành 4 loại theo mức độ biệt hóa gồm: biệt hóa tốt, biệt hóa vừa, biệt hóa kém và không biệt hóa [18]. Phẫu thuật cắt dạ dày nội soi hoàn toàn 1.

Lịch sử Năm 1993, Goh và cộng sự báo cáo kết quả cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn, phục hồi tiêu hóa kiểu Billroth-II, cho 1 trường hợp loét dạ dày. Kết quả, thời gian phẫu thuật dài 4 giờ, sử dụng 17 endoGIA 30 mm, bệnh nhân trung tiện ngày thứ 2, ăn uống lỏng ngày thứ 3 sau phẫu thuật và ra viện ngày thứ 4 sau phẫu thuật [21]. báo cáo kết quả phẫu thuật nội soi cắt bỏ niêm mạc dạ dày cho 8 trường hợp ung thư dạ dày sớm (Early gastric cancer- EGC). Kết quả, không có biến chứng trong và sau phẫu thuật, thời gian nằm viện trung bình là 5 ngày, thời gian phẫu thuật 60 đến 150 phút (trung bình 105 phút).

Bệnh nhân ăn lỏng trở lại vào thứ 2 và thứ 3. Thời gian theo dõi trung bình 9 tháng (tối đa 15 tháng) không có bệnh nhân nào bị tái phát [22]. và cộng sự báo cáo kết quả nội soi cắt bỏ dạ dày hình chêm bằng phương pháp nâng tổn thương cho 6 trường hợp EGC. Kết quả, không có biến chứng, tử vong trong và sau phẫu thuật.

Bệnh nhân ra viện trong vòng 5 ngày sau khi phẫu thuật [23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Cắt bán phần dưới dạ dày nội soi hoàn toàn: Giải pháp điều trị ung thư dạ dày hiệu quả" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp phẫu thuật nội soi cắt bán phần dạ dày, một giải pháp tiên tiến trong điều trị ung thư dạ dày. Bài viết nêu rõ quy trình thực hiện, lợi ích của phương pháp này so với các phương pháp truyền thống, cũng như tỷ lệ thành công và khả năng phục hồi của bệnh nhân. Đặc biệt, phương pháp này không chỉ giúp giảm thiểu đau đớn mà còn rút ngắn thời gian hồi phục, mang lại hy vọng cho nhiều bệnh nhân ung thư dạ dày.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu mật độ xương và loãng xương ở người thừa cân béo phì, nơi khám phá mối liên hệ giữa tình trạng béo phì và sức khỏe xương. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu thực trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về các vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh tiểu đường, một yếu tố có thể ảnh hưởng đến quá trình điều trị ung thư. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu tình trạng nhiễm sắt và kết quả điều trị thải sắt của bệnh nhân thalassemia, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị khác trong lĩnh vực y tế. Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe và các phương pháp điều trị hiện đại.